CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử hình thành và phát triển phương pháp trắc nghiệm * Lịch sử hình thành trắc nghiệm trên thế giới: Các phương pháp trắc nghiệm đo lường thành quả học tập đầu tiên được tiến hành vào thế kỷ XVII - XVIII tại Châu Âu. Sang thế kỉ XIX đầu thể kỉ XX , các phương pháp trắc nghiệm đo lường thành quả học tập đã được chú ý. Năm 1904 nhà tâm lí học người Pháp - Alfred Binet trong quá trình nghiên cứu trẻ em mắc bệnh tâm thần, đã xây dựng một số bài trắc nghiệm về trí thông minh.
Năm 1916, Lewis Terman đã dịch và soạn các bài trắc nghiệm này ra tiếng Anh từ đó trắc nghiệm trí thông minh được gọi là trắc nghiệm Stanford - Binet. Vào đầu thế kỷ XX, E. Thorm Dike là người đầu tiên đã dùng trắc nghiệm khách quan (TNKQ) như là phương pháp "khách quan và nhanh chóng" để đo trình độ học sinh, bắt đầu dùng với môn số học và sau đó là một số môn khác. Trong những năm gần đây trắc nghiệm là một phương tiện có giá trị trong giáo dục.
Hiện nay trên thế giới trong các kì kiểm tra, thi tuyển một số môn đã sử dụng trắc nghiệm khá phổ biến. * Lịch sử hình thành trắc nghiệm Ở Việt nam: Trắc nghiệm khách quan được sử dụng từ rất sớm trên thế giới song ở Việt Nam thì trắc nghiệm khách quan xuất hiện muộn hơn, cụ thể: Ở miền nam Việt Nam, từ những năm 1960 đã có nhiều tác giả sử dụng trắc nghiệm khách quan một số ngành khoa học (chủ yếu là tâm lí học). Năm 1969, tác giả Dương Thiệu Tống đã đưa một số môn trắc nghiệm khách quan và thống kê giáo dục vào giảng dạy tại lớp cao học và tiến sĩ giáo dục học tại trường đại học Sài Gòn. Năm 1974, ở miền Nam đã tổ chức thi tú tài bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tác giả Nguyễn Như An dùng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong việc thực hiện đề tài “Bước đầu nghiên cứu nhận thức tâm lí của sinh viên đại học sư phạm” năm 1976 và đề tài “Vận dụng phương pháp test và phương pháp kiểm tra truyền thống trong dạy học tâm lí học” năm 1978. Tác giả Nguyễn Hữu Long, cán bộ giảng dạy khoa tâm lí, với đề tài: “test trong dạy học”. Những năm gần đây, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học, Bộ giáo dục và Đào tạo và các trường đại học đã tổ chức các cuộc hội thảo trao đổi về việc cải tiến hệ thống các phương pháp kiểm tra, đánh giá của sinh viên trong nước và trên thế giới, các khoá huấn luyện và cung cấp những hiểu biết cơ bản về lượng giá giáo dục và các phương pháp trắc nghiệm khách quan. Theo xu hướng đổi mới của việc kiểm tra đánh giá, Bộ giáo dục và đào tạo đã giới thiệu phương pháp trắc nghiệm khách quan trong các trường đại học và bắt đầu những công trình nghiên cứu thử nghiệm.
Các cuộc hội thảo, các lớp huấn luyện đã được tổ chức ở các trường như: Đại học sư phạm Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội, Cao đẳng sư phạm Hà Nội.Tháng 4 năm 1998, trường Đại học sư phạm Hà Nội - Đại học quốc gia Hà Nội có tổ chức cuộc hội thảo khoa học về việc sử dụng trắc nghiệm khách quan trong dạy học và tiến hành xây dựng ngân hàng trắc nghiệm khách quan để kiểm tra, đánh giá một số học phần của các khoa trong trường. Hiện nay, một số khoa trong trường đã bắt đầu sử dụng trắc nghiệm khách quan trong quá trình dạy học như: toán, lí … và một số bộ môn đã có học phần thi bằng phương pháp trắc nghiệm như môn tiếng Anh. Ngoài ra, một số nơi khác cũng đã bắt đầu nghiên cứu việc sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong quá trình kiểm tra, đánh giá nhận thức của học sinh. Một số môn đã có sách trắc nghiệm khách quan như: toán, văn, lí, hoá, sinh, tâm lí….Ở nước ta, thí điểm thi tuyển sinh đại học bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan đã được tổ chức đầu tiên tại trường đại học Đà Lạt tháng 7 năm 1996 và đã thành công.
Như vậy, phương pháp trắc nghiệm khách quan đã rất phổ biến ở các nước 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phát triển, trong nhiều lĩnh vực, nhiều môn học với kết quả tốt và được đánh giá cao. Tuy nhiên, ở Việt Nam việc sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan còn rất mới mẻ và hạn chế nhất là trong các trường phổ thông. Để học sinh phổ thông có thể làm quen dần với phương pháp trắc nghiệm khách quan. Hiện nay, Bộ giáo dục và Đào tạo đã đưa một số câu hỏi trắc nghiệm khách quan lồng ghép với câu hỏi tự luận trong các SGK một số môn học ở trường phổ thông trong những năm tới sẽ hoàn thành công việc này ở bậc THPT.
Khi công việc đó thành công sẽ hứa hẹn một sự phát triển mạnh mẽ của phương pháp trắc nghiệm khách quan ở Việt Nam. Sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan để làm đề thi tốt nghiệp THPT và làm đề thi tuyển sinh đại học sẽ đảm bảo được tính công bằng và độ chính xác trong thi cử. Vì vậy, bắt đầu từ năm học 2006 - 2007 Bộ giáo dục và Đào tạo có chủ trương tổ chức thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh đại học bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan đối với các môn: lí, hoá, sinh, tiếng Anh. Khái niệm về trắc nghiệm Theo tác giả Dương Thiệu Tống: "Một dụng cụ hay phương thức hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái để trả lời câu hỏi: thành tích của các cá nhân như thế nào khi so sánh với những người khác hay so sánh với một lĩnh vực các nhiệm vụ dự kiến".
Theo tác giả Trần Bá Hoành: "Test có thể tạm dịch là phương pháp trắc nghiệm, là hình thức đặc biệt để thăm dò một số đặc điểm về năng lực, trí tuệ của học sinh (thông minh, trí nhớ, tưởng tượng, chú ý) hoặc để kiểm tra một số kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh thuộc một chương trình nhất định. Theo nghĩa rộng trắc nghiệm là một hoạt động để đo lường năng lực của các đối tượng nào đó nhằm những mục đích xác định. Trong giáo dục trắc nghiệm được tiến hành thường xuyên ở các kỳ thi, kiểm tra để đánh giá kết quả 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học tập, giảng dạy đối với một phần của môn học, toàn bộ môn học, đối với toàn bộ cấp học; hoặc để tuyển chọn người có năng lực nhất vào khóa học. So sánh phương pháp tự luận và trắc nghiệm 1.
Phương pháp tự luận Là các câu hỏi buộc trả lời theo dạng mở, thí sinh phải tự trình bày ý kiến trong một bài viết dài để giải quyết vấn đề mà câu hỏi nêu ra. Người ta gọi phương pháp này là tự luận (essay). Thi, kiểm tra tự luận rất quen thuộc với những ai đi học. * Ưu điểm của phương pháp tự luận: - Tạo điều kiện để HS bộc lộ khả năng diễn đạt những suy luận của mình - Có thể thấy quá trình tư duy của HS đi đến đáp án - Soạn dễ hơn, mất ít thời gian hơn * Nhược điểm của phương pháp tự luận: - Thiếu tính toàn diện và hệ thống - Thiếu tính khách quan - Chấm bài khó khăn, mất nhiều thời gian.
Điểm có độ tin cậy thấp. - Không thể sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại để chấm bài, phân tích kết quả kiểm tra. Phương pháp trắc nghiệm Là các câu hỏi có kèm theo câu trả lời sẵn yêu cầu học sinh suy nghĩ rồi dùng một kí hiệu đơn giản đã qui ước để trả lời. Người ta gọi phương pháp là trắc nghiệm khách quan (objective test).
Trắc nghiệm khách quan tuy còn mới trong nhà trường nhưng khá phổ biến trong xã hội, dạng đơn giản nhất được dùng trong các chương trình về an toàn giao thông trên truyền hình. * Ưu điểm của trắc nghiệm khách quan: - Bài kiểm tra rất nhiều câu hỏi nên có thể bao quát một phạm vi rất rộng của nội dung chương trình 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Có tiêu chí đánh giá đơn nhất, không phụ thuộc ý muốn chủ quan của người chấm. - Sự phân bố điểm của các bài kiểm tra bằng tắc nghiệm khách quan được trải trên một phổ rộng hơn nhiều. - Có thể sử dụng phương tiện kĩ thuật hiện đại trong việc chấm điểm và phân tích kết quả kiểm tra.
* Nhược điểm của trắc nghiệm khách quan: - Không cho phép đánh giá năng lực diễn đạt của học sinh cũng như không cho thấy quá trình suy nghĩ của học sinh để trả lời một câu hỏi hoặc giải đáp một bài tập. - Việc biên soạn đề kiểm tra gây khó khăn và mất nhiều thời gian. Độ khó và độ phân loại học sinh của câu trắc nghiệm 1. Độ khó (Chỉ số khó) Dùng đo lường, xác định mức độ “dễ” hay “khó” của một câu trắc nghiệm.
Đó là tỷ lệ phần trăm số sinh viên đã trả lời đúng đối với một câu trắc nghiệm. Chỉ số này biến thiên từ 0 đến 100%, chỉ số này càng cao thì câu trắc nghiệm càng dễ, đây là điều không logic nên đôi khi chỉ số này được gọi là “chỉ số dễ”, nhưng trong các tài liệu của Mỹ thì chỉ số này luôn dùng với từ là “chỉ số khó”. Trong các bài trắc nghiệm thông thường, khi các điều kiện như nhau thì điểm số sẽ có xu hướng phân tán nếu nhiều câu hỏi của bài trắc nghiệm ở mức độ khó trung bình, điều này có nghĩa là nhiều điểm số sẽ nằm ở giữa điểm mà bằng cách đoán mò ngẫu nhiên có thể đạt với số điểm cao nhất có thể có được. Ví dụ: Trong bài trắc nghiệm khách quan Multiple Choice Question (MCQ) với năm phương án chọn một, có thể 1/5 khả năng số lần đoán mò được câu đúng là 20%.
Điểm tuyệt đối sẽ là 100% nếu làm đúng hết, thì mức độ khó trung bình sẽ nằm giữa 20% và 100%, tức là bằng 60%. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, trong bài trắc nghiệm MCQ như trên thì điều mong muốn là nhiều câu trắc nghiệm sẽ được khoảng 60% học sinh trả lời đúng. Công thức tính chỉ số khó: DF (%) = (H + L) x 100/N (1.1) Trong đó: - H = Số trả lời đúng ở nhóm cao. - L = Số trả lời đúng ở nhóm thấp.
- N = Tổng số sinh viên cả hai nhóm.