Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn đề tài Chương 2: Xây dựng và sử dụng hệ thống CH, BT rèn luyện năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THƢ̣C TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lƣợc sử nghiên cƣ́u 1. Trên thế giới Trên thế giới, khoa học sáng tạo đã phát triển rất sớm. Vào thế kỷ thứ ba, Pappus đã đặt nền móng cho khoa học về tƣ duy sáng tạo (Ơ-ris-tic).
Ơ-ris-tic là khoa học về sự sáng chế, phát minh trong lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật. Đến nay, Ơ-ris-tic đã tồn tại suốt 17 thế kỷ nhƣng có rất ít ngƣời biết về nó, vì trong một khoảng thời gian dài xã hội không có nhu cầu cấp thiết về khoa học tƣ duy sáng tạo. Ngày nay, khi mà sáng tạo tự phát không thể giải quyết đƣợc những vấn đề ngày càng phức tạp của xã hội thì khoa học sáng tạo Ơ-ris-tic đƣợc nghiên cứu và phát triển. Trên thế giới các PPDH tích cực góp phần phát triển NLST cho HS có mầm mống từ cuối thế kỉ XIX và phát triển mạnh từ những năm 70 của thế kỉ XX.
Vào nửa cuối thế kỷ XIX các nghiên cứu về tâm lí học sáng tạo trong khoa học kỹ thuật bắt đầu xuất hiện. Đến thế kỷ XX các nghiên cứu đã cho kết quả là khả năng sáng tạo có ở tất cả những ngƣời bình thƣờng, khoa học sáng tạo Ơ-ris-tic đƣợc phát triển với chất lƣợng mới với tên gọi là sáng tạo học. Các nhà tâm lí học đã phát hiện ra phƣơng pháp thử và sai và vai trò quan trọng của nhiều yếu tố tâm lí nhƣ tính liên tƣởng, trí tƣởng tƣợng, trực giác, tính ì tâm lí. trong quá trình tƣduy sáng tạo.
Tại thời điểm đó đã xuất hiện nhiều phƣơng pháp nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả tƣ duy sáng tạo nhƣ: Phƣơng pháp đối tƣợng tiêu điểm của F. Zwicky, Phƣơng pháp não công của A. Mặc dù các phƣơng pháp này tuy có nhiều ƣu điểm song vẫn chƣa khắc phục đƣợc nhƣợc điểm của phƣơng pháp thử và sai là thiếu cơ chế định hƣớng từ bài toán đến lời giải trong tƣ duy sáng tạo. Ngƣời có công lớn trong việc xây dựng khoa học sáng tạo là nhà khoa học Genric Sanlovich Altshuller.
Ông đã xây dựng lí thuyết giải các bài toán sáng chế (viết tắt TRIZ) là phƣơng pháp luận tìm kiếm những giải pháp kỹ thuật mới, cho những kết quả khả quan, ổn định khi giải những bài toán khác nhau, thích hợp cho việc dạy và học với đông đảo quần chúng. TRIZ kết hợp một cách chặt chẽ 4 yếu 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tố: Tâm lí, logic, kiến thức, trí tƣởng tƣợng. Nó có mục đích tích cực hoá hoạt động tƣ duy sáng tạo. Theo đó, khoa học về sáng tạo đƣợc nhiều quốc gia quan tâm và đƣa vào giảng dạy.
Năm 1984, nghiên cứu của Spickler và một số nhà giáo dục học Bắc Mỹ về việc "Khảo sát nhiệm vụ thực hành trong các môn khoa học bậc ĐH" [50] cho thấy: Phải gắn HS vào quá trình học tập tích cực; làm cho HS có trách nhiệm học và lựa chọn tiến hành thí nghiệm một cách hứng thú; đòi hỏi HS phải áp dụng nhiều kỹ năng xử lý thí nghiệm bao quát hơn, đáp ứng đƣợc yêu cầu HS tự nghiên cứu, tự học, tự phát triển tƣ duy và phát huy tính sáng tạo. Đầu thế kỉ XX các nhà sƣ phạm Mỹ (J.Dewey, Woodward, Richard, W.Kilpatrick) đã xây dựng lí luận cho PPDH dự án (Project method). Đây là PPDH trong đó ngƣời học thực hiện một nhiệm vụ phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, thực hành đƣợc ngƣời học thực hiện với tính tự lực cao trong quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện. Tony Buzan đã đề xuất sơ đồ tƣ duy (Mind Map) để giúp ngƣời học phát triển tƣ duy.
Đây là hình thức ghi chép bằng hình vẽ có sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng, nhấn mạnh các ý tƣởng. Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tƣởng đƣợc liên kết với nhau khiến sơ đồ tƣ duy có thể bao quát đƣợc các ý tƣởng trên một phạm vi sâu rộng. Tính hấp dẫn của hình ảnh, âm thanh,gây ra những kích thích rất mạnh lên hệ thống rìa của não giúp cho việc ghi nhớ đƣợc lâu bền và tạo ra những điều kiện thuận lợi để vỏ não phân tích, xử lí,. từ đó giúp ngƣời học rút ra kết luận hoặc xây dựng mô hình về đối tƣợng cần nghiên cứu [6].
Năm 1930 nhà sáng chế Alex Born đề xuất kĩ thuật công não- một kĩ thuật hội ý bao gồm một nhóm ngƣời nhằm tìm ra lời giải cho vấn đề đặc trƣng bằng cách góp nhặt tất cả các ý kiến của nhóm ngƣời đó nảy sinh trong cùng môt thời gian theo một nguyên tắc nhất định. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, vào cuối thập kỷ 70, những hoạt động nghiên cứu liên quan đến khoa học về tƣ duy sáng tạo còn mang tính chất tự phát. Lớp học dạy về phƣơng pháp luận sáng tạo đƣợc tổ chức năm 1977. Ngƣời có công lớn là Phan Dũng với 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các tác phẩm: Phƣơng pháp luận sáng tạo khoa học- kỹ thuật giải quyết vấn đề ra quyết định [8]; Các nguyên tắc sáng tạo cơ bản [7] [11]; Thế giới bên trong con ngƣời sáng tạo [9]; Tƣ duy logic biện chứng và hệ thống [10].
Nguyễn Chân, Dƣơng Xuân Bảo và Phan Dũng (1983) với “Angôrit sáng chế” - Đây là quyển sách đầu tiên về phƣơng pháp luận sáng tạo đƣợc nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội in và phát hành [1]. Nguyễn Văn Lê (1998) với “Cơ sở khoa học của sự sáng tạo” [25] đã trình bày một số cơ sở khoa học của việc giáo dục tính sáng tạo cho thanh thiếu niên nhƣ: Cơ sở tâm lí học của sự sáng tạo, cơ sở sinh lí thần kinh của hoạt động sáng tạo, bài học từ những con ngƣời sáng tạo. Nguyễn Minh Triết (2001) với “Đánh thức tiềm năng sáng tạo” [46] đã đề cập đến việc vận dụng 19 nguyên tắc sáng tạo vào giải các bài toán cụ thể nhằm khắc phục tính ì tâm lí của con ngƣời khi giải quyết các vấn đề thực tiễn. Nguyễn Cảnh Toàn (2005) với “Khơi dậy tiềm năng sáng tạo” [43] đã đƣa ra các vấn đề về sáng tạo học nhƣ khái niệm, nguồn gốc, cơ sở thần kinh của hoạt động sáng tạo.
Quyển sách đã chỉ ra cho ngƣời giáo viên (GV) làm thế nào để dạy HS học tập sáng tạo. Trần Thị Bích Liễu với cuốn sách ”Giáo dục phát triển NLST” đã đƣa hiểu biết về giáo dục sáng tạo và phát triển NLST vào Việt Nam một cách hệ thống và bài bản nhằm giúp các trƣờng học phát triển NLST của HS, tạo. Qua đó các nhà quản lí giáo dục có thể tìm thấy những cách thức để phát triển nhà trƣờng của mình thành một nhà trƣờng sáng tạo, GV tìm thấy những hiểu biết, các nội dung và PPDH để phát triển tiềm năng sáng tạo cho HS. Cho đến nay, chƣa có đề tài nào nghiên cứu một cách hệ thống về vấn đề phát triển NLST cho HS thông qua sử dụng CH - BT trong dạy học phần Sinh học tế bào - SH 10 THPT.
Định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông[4] - Phát triển năng lực ngƣời học: Giáo dục định hƣớng năng lực nhằm đảm bảo chất lƣợng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các năng lực và phẩm chất nhân cách của ngƣời học. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Điều chỉnh cân đối “dạy chữ”, “dạy ngƣời” và định hƣớng nghề nghiệp. - Đẩy mạnh đổi mới phƣơng pháp và hình thức tổ chức giáo dục nhằm phát triển năng lực cho HS. - Đổi mới đánh giá kết quả giáo dục theo hƣớng đánh giá năng lực.
Năng lực và phát triển năng lực trong dạy học 1. Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực có nguồn gốc Latinh: “competentia” nghĩa là “gặp gỡ”. Ngày nay khái niệm năng lực đƣợc hiểu dƣới nhiều cách tiếp cận khác nhau.Weinert (2001): "Năng lực là những kĩ năng kĩ xảo học đƣợc hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng nhƣ sự sẵn sàng về động cơ xã hộivà khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt " [52, tr. Theo Howard Gardner (1999): "Năng lực phải đƣợc thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đƣợc" [24, tr.
Theo Denys Tremblay (2002): "Năng lực là khả năng hành động, đạt đƣợc thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống" [45, tr. Theo Bernd Meier, Nguyễn Văn Cƣờng (2005): Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố nhƣ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức [26]. Nhƣ vậy có thể hiểu: Năng lực là sự kết hợp hợp lí kiến thức, kĩ năng và sự sẵn sàng tham gia các hoạt động tích cực, có hiệu quả để giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau. Một cách cụ thể hơn, năng lực là sự huy động và kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức các kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân…để thực hiện thành công các yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định.
Đặc điểm và cấu trúc chung của năng lực [4][15] * Đặc điểm của năng lực: Năng lực chỉ có thể quan sát đƣợc qua hoạt đông của cá nhân ở các tình huống nhất định. Năng lực tồn tại dƣới hai hình thức: Năng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lực chung và năng lực chuyên biệt. Các năng lực chuyên biệt không thể thay thế đƣợc các năng lực chung. * Cấu trúc năng lực: Theo các khái niệm về năng lực có thể thấy năng lực đƣợc tạo nên bởi ba thành phần cơ bản, đó là: kĩ năng, nội dung và tình huống.
Có nhiều loại năng lực khác nhau. Việc mô tả cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau. Hiện nay, ngƣời ta quan tâm nhiều đến phát triển năng lực hành động.