CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH THÔNG QUA BÀI TẬP HÓA HỌC 1.Giáo dục định hướng kết quả đầu ra và phát triển năng lực của học sinh Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung ( Giáo dục theo định hướng kết quả đầu vào) sang tiếp cận năng lực ( Giáo dục định hướng kết quả đầu ra) của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học. Trước bối cảnh đó và để chuẩn bị cho quá trình đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015, cần thiết phải đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục theo định hướng phát triển năng lực người học. Năng lực và sự phát triển năng lực 1. Khái niệm năng lực Năng lực được định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau bằng sự lựa chọn loại dấu hiệu khác nhau.
Có thể phân làm hai nhóm chính: - Nhóm lấy dấu hiệu tố chất tâm lý để định nghĩa. Ví dụ: “Năng lực là một thuộc tính tích hợp của nhân cách, là tổ hợp các đặc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động xác định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt đẹp” - Nhóm lấy dấu hiệu về các yếu tố tạo thành khả năng hành động để định nghĩa. Ví dụ: “Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống”. Hoặc “Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống”.
Dù diễn đạt cách nào cũng thấy năng lực có một số đặc điểm chung, cơ bản là: - Đề cập tới xu thế đạt được một kết quả nào đó của một công việc cụ thể, do một con người cụ thể thực hiện (Năng lực học tập, năng lực tư duy, năng lực tự quản lý bản thân …). Vậy không tồn tại năng lực chung chung. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Có sự tác động của một cá nhân cụ thể tới một đối tượng cụ thể (kiến thức, quan hệ xã hội …) để có một sản phẩm nhất định, do đó có thể phân biệt người này với người khác. - Năng lực là một yếu tố cấu thành trong một hoạt động cụ thể.
Năng lực chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể. Vì vậy, năng lực vừa là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động, nó là điều kiện của hoạt động, nhưng cũng phát triển trong chính hoạt động đó. Bản chất của năng lực là khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức hợp lí các kiến thức, kĩ năng với thái độ, giá trị, động cơ, nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của một hoạt động, bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tốt đẹp trong một bối cảnh (tình huống) nhất định. Biểu hiện của năng lực là biết sử dụng các nội dung và các kĩ năng trong một tình huống có ý nghĩa, chứ không ở tiếp thu lượng tri thức rời rạc.
Theo OECD (tổ chức các nước kinh tế phát triển) (2002) đã xác định: “ Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong bối cảnh cụ thể. Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2005) cho rằng : “ Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức.” [7] Trong đề tài này, chúng tôi chấp nhận quan niệm: “ Năng lực là sự kết hợp hợp lí kiến thức, kĩ năng và sự sẵn sàng tham gia các hoạt động tích cực, có hiệu quả”. Như vậy, năng lực là sự huy động và kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức các kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, động cơ cá nhân .Để thực hiện thành công các yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định. Muốn mô tả năng lực cá nhân, người ta thường dùng các động từ chỉ hành động như: Hiểu, biết, vận dụng.
Muốn đánh giá cá nhân hãy xem xét chúng trong hoạt động. Ví dụ năng lực giao tiếp có được khi cá nhân biết tổng hợp kiến thức về ngôn ngữ, kĩ năng sử dụng các công cụ ngôn ngữ (nói, viết, công nghệ thông tin) và thái độ đúng đắn đối với giao tiếp. Năng lực giao tiếp được bộc lộ khi cá nhân tham gia các hoạt động có chủ đích như trình bày, diễn thuyết, thảo luận…Năng lực được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả. Cấu trúc các thành tố của năng lực linh hoạt, dễ chuyển hóa khi môi trường và yêu cầu hoạt động thay đổi.
Năng lực được đánh giá thông qua việc theo dõi toàn bộ tiến trình hoạt động của học sinh ở những thời điểm khác nhau. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Một số năng lực chung và năng lực đặc thù môn hóa học cần phát triển cho học sinh trung học phổ thông Hiện nay chưa có nhiều tài liệu cung cấp một cách đầy đủ và hệ thống các năng lực chung và năng lực đặc thù môn Hóa học cần phát triển cho học sinh THPT. Vì vậy chúng tôi sử dụng tài liệu: “ Chiến lược phát triển giáo dục 2011- 2020”[2 ] và tài liệu “ Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
Các năng lực chung cần phát triển cho HS THPT bao gồm các năng lực sau: Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân Năng lực tự học; Năng lực giải quyết vấn đề; Năng lực tư duy; Năng lực tự quản lý. Nhóm năng lực về quan hệ xã hội Năng lực giao tiếp; Năng lực hợp tác Nhóm năng lực công cụ Năng lực sử dụng Công nghệ thông tin và Truyền thông (ICT); Năng lực sử dụng ngôn ngữ; Năng lực tính toán. Năng lực đặc thù môn học : Trong chương trình giáo dục phổ thông mỗi môn học có đặc thù riêng và có thế mạnh để hình thành và phát triển năng lực đặc thù của môn học. Năng lực đặc thù môn Hóa học bao gồm các năng lực sau: [6,tr.42-46 ] - Năng lực sử dụng ngôn ngữ hoá học - Năng lực thực hành hoá học.
- Năng lực tính toán - Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua môn hoá học. - Năng lực vận dụng kiến thức hoá học vào cuộc sống. -Năng lực sáng tạo Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đi sâu về năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực tính toán hóa học, năng lực sử dụng ngôn ngữ hoá học. Bài tập hóa học.
Khái niệm bài tập hóa học Thực tiễn ở trường phổ thông, bài tập hoá học giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo. Bài tập vừa là mục đích vừa là nội dung lại vừa là 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phương pháp dạy học hiệu nghiệm. Bài tập cung cấp cho học sinh cả kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và cả niềm vui sướng của sự phát hiện, tìm ra đáp số, một trạng thái hưng phấn, hứng thú nhận thức, một yếu tố tâm lý góp phần rất quan trọng trong việc nâng cao tính hiệu quả của hoạt động thực tiễn của con người, điều này đặc biệt được chú ý trong nhà trường của các nước phát triển.[32,tr 34] Vậy bài tập là gì ? Theo từ điển Tiếng Việt bài tập là bài ra cho HS làm để vận dụng điều đã học, còn bài toán là vấn đề cần giải quyết bằng phương pháp khoa học. Ở đây chúng ta hiểu rằng BTHH là những bài được lựa chọn một cách phù hợp với nội dung rõ ràng, cụ thể.
Muốn giải được những bài tập này người HS phải biết suy luận logic dựa vào những kiến thức đã học, phải sử dụng những hiện tượng hóa học, những khái niệm, những định luật, học thuyết, những phép toán., người học phải biết phân loại bài tập để tìm ra hướng giải có hiệu quả. Phân loại bài tập hóa học Hiện nay có nhiều cách phân loại bài tập hoá học dựa trên cơ sở khác nhau: a/ Dựa vào mức độ kiến thức: Cơ bản, nâng cao. b/ Dựa vào tính chất bài tập: Định tính, định lượng. c/ Dựa vào hình thái hoạt động của học sinh: Lý thuyết, thực nghiệm.
d/ Dựa vào mục đích dạy học: Ôn tập, luyện tập, kiểm tra. e/ Dựa vào cách tiến hành trả lời: Trắc nghiệm khách quan, tự luận. f/ Dựa vào kỹ năng, phương pháp giải bài tập:Lập công thức, hỗn hợp, tổng hợp chất, xác định cấu trúc. g/ Dựa vào loại kiến thức trong chương trình:Dung dịch, điện hoá, động học, nhiệt hoá học, phản ứng oxihoá - khử.
i/ Dựa vào đặc điểm bài tập: Bài tập định tính: Giải thích hiện tượng, nhận biết, điều chế, tách hỗn hợp. Bài tập định lượng: Có lượng dư, giải bằng trị số trung bình, giải bằng đồ thị. Giữa các cách phân loại không có ranh giới rõ rệt, người ta phân loại để nhằm phục vụ cho nhưng mục đích nhất định.tr37] * Bài tập tự luận: Là loại bài tập, HS phải tự viết câu trả lời, phải tự trình bày, lí giải, chứng minh bằng ngôn ngữ của mình. Bài tập tự luận có hai dạng: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Bài tập tự luận định tính (bài tập định tính): Là các dạng bài tập có liên hệ với sự quan sát để mô tả, giải thích các hiện tượng hoá học.
+ Bài tập tự luận định lượng (bài tập định lượng): Là loại bài tập cần dùng các kỹ năng toán học kết hợp với kỹ năng hoá học để giải. * Bài tập trắc nghiệm: Là loại bài tập khi làm bài HS chỉ phải chọn câu trả lời trong số các câu trả lời đã được cung cấp. Do không phải viết câu trả lời nên thời gian dành cho việc đọc, suy nghĩ và chọn câu trả lời chỉ từ 1 – 2 phút. Bài tập trắc nghiệm có các dạng như: Bài tập điền khuyết; bài tập đúng - sai; bài tập ghép đôi; bài tập nhiều lựa chọn.