Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TÀY Xà DƯƠNG QUỲ VÀ TẬP QUÁN CƯỚI XIN TRUYỀN THỐNG 1. Khái quát về người Tày xã Dương Quỳ 1. Đặc điểm tự nhiên- kinh tế- xã hội 1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên + Vị trí địa lý: Dương Quỳ là một xã miền núi thuộc khu vực III của huyện Văn Bàn, nằm trong khoảng tọa độ địa lý: Từ 21o 56’ 30”đến 22o 04’08”độ vĩ Bắc. Từ 103o 50’02” đến 103o 54’30” độ kinh Đông.
Xã có các mặt tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp xã Dần Thàng, Hòa Mạc. Phía Tây giáp xã Thẩm Dương Phía Đông giáp xã Làng Giàng, xã Khánh Yên Trung Phía Nam giáp xã Nậm Xây. Với tổng diện tích tự nhiên là 10.487,0 ha nằm cách trung tâm huyện lị 15km về phía Tây Nam,có đường quốc lộ 279 chạy qua trung tâm xã. + Địa hình Địa hình Dương Quỳ gồm nhiều dãy núi chạy theo hướng Bắc Nam thấp dần về phía quốc lộ 279 và suối Chăn, có độ chia cắt tạo ra nhiều vách đứng cao, hợp thủy sâu hẹp.
Nơi có độ cao tuyệt đối thấp nhất là cánh đồng Dương Quỳ 220m, cao nhất là đỉnh núi giáp ranh xã Nậm Xây và xã Khánh Yên Trung 2629 m độ cao trung bình là 800 m, độ dốc trung bình khoảng 30 có nơi tới 40 – 45. Nhìn chung địa hình Dương Quỳ chia thành các dạng chính sau: dạng địa hình núi thấp, dạng địa hình núi trung bình, dạng địa hình núi cao. Hoàng Thị Quyên 6 Lớp: VHDT15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa văn hóa dân tộc thiểu số + Khí hậu thời tiết Dương Quỳ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 2 mùa rõ rệt trong năm: Mùa mưa và mùa khô, hanh kèm theo mưa phùn từ tháng 10 năm trước đến hết tháng 3 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm là 22,9 C, mùa mưa nóng nhiệt độ trung bình là 20oC – 15oC.
Tổng tích ôn trong năm trung bình từ 7. Số giờ nắng trung bình trong năm từ 1. - Độ ẩm không khí trung bình trong năm là 86 %, cao nhất vào tháng 7 từ 80% - 90 % , thấp nhất vào tháng 12 từ 65 % - 75 %. - Lượng mưa trung bình trong năm là 1.500 mm, vào tháng 7 – 10 lượng mưa lớn, mưa nhiều chiếm 70 % lượng mưa cả năm.
Lượng mưa thấp nhất tập chung vào các tháng mùa đông, lạnh trung bình từ 50mm – 150mm trên tháng. - Gió: có 2 hướng gió chính thổi theo mùa, mùa hè gió Đông Nam, mùa đông gió Đông Bắc từ tháng 3 dến tháng 9 thường có đợt gió Tây Nam (gió Lào) khô nóng kéo từ 5 – 7 ngày. - Sương: sương mù thường xuất hiện vào các ngày mùa đông giá rét đôi khi còn có ngày xuất hiện sương muối. Tóm lại: Với điều kiện thời tiết khí hậu như trên bên cạnh những thuận lợi lớn còn có những khó khăn nhất định ảnh hưởng đến đời sống sản xuất của nhân dân trong xã.
+ Thủy văn Là xã có diện tích tự nhiên lớn, địa hình phức tạp như đã nêu ở trên vì vậy có hệ thống khe suối rất lớn bình quân từ 1 – 1,3 km / 1km 2 diện tích đất tự nhiên tất cả các khe suối đều nằm trong lưu vực của con suối chính là suối Chăn, các con suối chính trên điạ bàn xã gồm có: Suối Chăn, suối Nậm Tùn, suối Nậm Chỗ, suối Nậm Hốc, suối nậm Chút. Hoàng Thị Quyên 7 Lớp: VHDT15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa văn hóa dân tộc thiểu số Nhìn chung các con suối đều có lưu lượng nước không lớn, đây chính là nguồn nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của người dân, sản xuất điện năng, khả năng vận chuyểnđường thủy là không có do suối có nhiều đá nổi, thác ghềnh, về mùa mưa tình hình xảy ra ít nhiều ảnh hưởng tới đi lại. + Các nguồn tài nguyên: Dương Quỳ có một nguồn tài nguyên vô cùng phong phú và đa dạng trong đó có thể kể tới như: Tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản. Tài nguyên nhân văn: Là xã có dân số lớn gồm 5 dân tộc anh em cùng sinh sống trên địa bàn xã là các dân tộc.
Tày, Dao, Thái, Xa Phó, Kinh mỗi dân tộc đều có tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán khác nhau tạo nên sự đa dạng về bản sắc văn hóa dân tộc 1. Điều kiện kinh tế - xã hội + Thực trạng phát triển kinh tế: Trong những năm qua, kinh tế xã Dương Quỳ có bước tăng trưởng tiến bộ rõ rệt khắc phục được tình trạng khó khăn kéo dài trước đây và đang chuyển sang thời kỳ phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tổng thu ngân sách năm sau cao hơn năm trước, thu nhập của người dân tăng dần, từng bước xóa đói giảm nghèo nâng cao đời sống. Dưới sự lãnh đạo chỉ đạo sáng suốt của các cấp, cùng với sự nỗ lực mọi mặt của nhân dân địa phương, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỉ trọng ngành công nghiệp xây dựng, thương mại, dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông – lâm nghiệp, bước đầu chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa mang lại hiệu quả kinh tế cao.
+ Khái quát xã hội: Theo thống kê của huyện cho thấy, toàn xã có 893 hộ gia đình với 4.928 nhân khẩu, gồm 5 dân tộc cùng sinh sống: Tày, Dao, Thái, Xa Phó và dân tộc Kinh. Trong những năm qua dù trình độ dân trí đã dược nâng lên một bước vấn đề dân số được thực hiện như vấn đề sinh đẻ có kế hoạch, kế hoạch Hoàng Thị Quyên 8 Lớp: VHDT15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa văn hóa dân tộc thiểu số hóa gia đình được thực hiện song nhìn chung tỉ lệ tăng dân số vẫn còn ở mức cao, chính vì vậy đây là một sức ép lớn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo phát triển kinh tế. Xã có mật độ dân số trung bình là khoảng 47 người / km2 mật độ dân số là tương đối thấp so với mật độ chung của toàn huyện. Dân số phân bố không đều, đại đa số phân bố ở các khu vực thung lũng bằng phẳng, xung quanh các cánh đồng dọc theo ven các con suối lớn, đường quốc lộ 279, sườn đồi.
Tên gọi, nguồn gốc, lịch sử cư trú Người Tày thuộc hệ ngôn ngữ Tày – Thái, có dân số đông nhất trong các dân tộc thiểu số ở nước ta. Dân tộc Tày tuy có dân số khá đông trong các dân tộc thiểu số, cư trú phân tán ở nhiều tỉnh với điều kiện địa lý, khí hậu khác nhau với trình độ phát triển kinh tế xã hội không đồng đều, nhưng là một cộng đồng người khá thuần nhất về các mặt, có ý thức rõ rệt về tộc danh của mình. Dù ở Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn…Họ đều thống nhất, gọi tộc danh mình là người Tày (Cần Tày) và tên gọi Tày đã trở thành tên gọi chính thức của dân tộc kể từ sau Cách mạng tháng tám năm 1945 đến nay. [7, tr20;tr27] Theo các nhà dân tộc học cho biết, đây là danh xưng phổ biến của nhiều dân tộc cùng ngôn ngữ đang sinh sống ở Đông Nam Á và Nam Trung Quốc chứ không riêng người Tày.
Hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng Tày và các biến âm của nó là Tai, Tải, Thai đều có nghĩa là “người tự do”. Bên cạnh tên gọi Tày, trước kia người Tày ở nước ta còn được gọi là Thổ. Thổ cũng là một tên gọi được biết đến khá phổ biến ở Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam, có nghĩa là người bản địa, cư dân lâu đời. Người Tày ở xã Dương Quỳ có mặt từ rất sớm, hiện tại chưa có tài liệu chính xác nào nói về sự có mặt của nhóm người này.
Ngay cả những người cao tuổi nhất trong vùng cũng không còn rõ nguồn gốc của dân tộc mình. Hoàng Thị Quyên 9 Lớp: VHDT15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa văn hóa dân tộc thiểu số Hiện nay dân tộc Tày đã phát triển lên rất nhiều về số lượng và diện tích sinh sống. Cũng giống dân tộc Tày ở những vùng khác, người Tày ở xã Dương Quỳ, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai thường cư trú ở các thung lũng có diện tích khá rộng, bằng phẳng và nhiều thung lũng nhỏ khác. Người Tày thường sống tập trung theo làng, bản và ở gần những nơi có nguồn nước xung quanh các cánh đồng, ven sườn đồi, dọc các tuyến đường giao thông.
Đặc điểm kinh tế mưu sinh + Trồng trọt Do mô hình sống nên hoạt động kinh tế truyền thống của người Tày xã Dương Quỳ là canh tác lúa nước và chăn nuôi gia súc gia cầm: họ sản xuất theo quy mô hộ gia đình, tự cung, tự cấp. Từ lâu người Tày ở đây rât thành thạo và có kinh nghiệm canh tác ruộng nước trên các cánh đồng và nhiều thửa ruộng quanh rừng quanh bản. Họ đã biết sử dụng cày bừa trong khâu làm đất, sử dụng phân bón chuồng để tăng năng suất cây trồng. Đặc biệt việc xác định mùa vụ đồng bào tuân thủ chặt chẽ, theo cách tính thời gian Âm lịch kết hợp với sự vận động cụ thể của thời tiết trong từng thời vụ.
Họ biết xen canh gối vụ các loại cây trồng, ngoài cây lúa là cây lương thực chủ đạo, người dân còn biết trồng cây hoa màu và cây lương thực khác: ngô, khoai, sắn, lạc, khoai tây, đỗ tương. họ rất có kinh nghiệm để tăng năng suất cây trồng. Trong những năm gần đây được Nhà nước quan tâm đầu tư các loại giống, kĩ thuật gieo trồng, các loại thuốc trừ sâu, phân bón hóa học làm cho năng suất ổn định và đã cung cấp đủ lương thực cho nhu cầu hàng ngày. Bên cạnh làm ruộng, người Tày xã Dương Qùy còn biết tận dụng các bãi bồi bên sông, suối, chân đồi để trồng các loại hoa màu, hay trồng bông, trồng chàm… ngô thường trồng 2 vụ, sắn trồng 1 vụ chủ yếu phục vụ chăn nuôi cho gia súc, gia cầm.
Hoàng Thị Quyên 10 Lớp: VHDT15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa văn hóa dân tộc thiểu số + Chăn nuôi Chăn nuôi dân tộc tày xã Dương Quỳ cũng khá phát triển và phong phú như nuôi trâu, bò, dê, ngựa, lợn, gà, vịt. Chăn nuôi chủ yếu tự cung, tự cấp trong gia đình, sản phẩm dùng để phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, sức kéo và thờ cúng, dịp lễ Tết, hội hè, cưới xin. Ngày nay sản phẩm chăn nuôi đã vượt ra khỏi nền kinh tế gia đình. Trước kia đàn gia súc thường nhốt dưới gầm sàn, nhưng hiện nay họ đã biết làm chuồng hay chăn thả tách biệt với nhà ở.