chương 1 phân tích các vấn đề cơ sở lý luận về hành vi tìm kiếm thông tin của sinh viên như khái niệm, mô hình hành vi tìm kiếm thông tin, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm thông tin của sinh viên. Đặc điểm hành vi tìm kiếm thông tin của sinh viên ở TP. Hồ Chí Minh. Trên cơ sở lý luận về hành vi tìm kiếm thông tin của sinh viên, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể để tìm hiểu về hành vi tìm kiếm thông tin của sinh viên, từ đó nhận diện những đặc điểm, yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm thông tin của sinh viên.
Giải pháp định hướng và hoàn thiện hành vi tìm kiếm thông tin của sinh viên ở TP. Hồ Chí Minh. Từ kết quả nghiên cứu thực tiễn về hành vi tìm kiếm thông tin của sinh viên tại các trường đại học ở TP. Hồ Chí Minh, đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm định hướng và hoàn thiện hành vi tìm kiếm thông tin của sinh viên tại TP.
Hồ Chí Minh. Các giải pháp được xây dựng trên cơ sở thực tiễn và từ nhu cầu của sinh viên, nhà trường và thư viện đại học. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HÀNH VI TÌM KIẾM THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN 1. Khái niệm về hành vi tìm kiếm thông tin Thông tin được xem như một hàng hoá trong thế giới ngày nay.
Nền kinh tế của chúng ta chủ yếu phụ thuộc vào quá trình sáng tạo và sử dụng thông tin (Straubhaar, LaRose & Davenport, 2011). Thông tin được định nghĩa như là sự kiện, ý kiến, tin tức, cơ sở dữ liệu, biểu tượng, v. làm thay đổi tình trạng tri thức của người nhận một cách tích cực hay tiêu cực (Popoola, 2006). Đó chính là thông điệp nói chung được dùng để trình bày thông tin trong một quá trình truyền thông để tăng kiến thức (TCVN 5453:2009).
Thông tin là khái niệm cơ bản của khoa học, cũng là khái niệm trung tâm của xã hội trong thời đại chúng ta (Đoàn Phan Tân, 2001, tr. Trong thực tiễn nghiên cứu, hành vi tìm kiếm thông tin đã được nghiên cứu từ rất sớm và phân tích từ nhiều góc độ của nhiều lĩnh vực khác nhau như khoa học nhận thức, truyền thông, tâm lý học và khoa học máy tính (Nahl & Bilal, 2007; Spink & Cole, 2006). Trong đó, lĩnh vực khoa học TV-TT là một ngành dẫn đầu trong nghiên cứu hành vi tìm kiếm thông tin của con người (Spink & Cole, 2006). Một trong những quan tâm của khoa học thông tin là hành vi tìm kiếm thông tin của các nhóm người dùng tin khác nhau (Wilson, 2000).
Bởi lẽ một dịch vụ thông tin được xem là hiệu quả hay không, phần lớn phụ thuộc vào hiểu biết về hành vi tìm kiếm thông tin của người dùng tin (Hepworth, 2007; Wilson, 2006). Nhiều nhà khoa học trong nước và nước ngoài quan tâm nghiên cứu những vấn đề liên quan đến khái niệm hành vi tìm kiếm thông tin, các biểu hiện của hành vi tìm kiếm thông tin, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm thông tin. Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu đề xuất các mô hình hành vi tìm kiếm thông tin mô tả các quá trình của hành vi tìm kiếm 16 thông tin như quá trình tìm tin, sử dụng và chia sẻ thông tin. Đối với hành vi tìm kiếm thông tin của sinh viên, một số kết quả nghiên cứu tiêu biểu trong và ngoài nước về các vấn đề này được trình bày theo nhóm vấn đề sau.
Tìm kiếm thông tin là một thuật ngữ rộng, liên quan đến tập hợp các hoạt động mà cá nhân thực hiện nhằm thể hiện nhu cầu tin của cá nhân đó, tìm kiếm, đánh giá, chọn lọc và sử dụng thông tin. Có nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm thông tin của một cá nhân hay một nhóm người, ví dụ, mục đích tìm tin, các kênh và các nguồn thông tin, các rào cản đối với thông tin. Tìm kiếm thông tin là một hoạt động cơ bản của một cá nhân (Wiberley, 1989), là “quá trình con người thực hiện một cách có mục đích nhằm thay đổi tình trạng kiến thức của họ, liên quan chặt chẽ đến quá trình học hỏi và giải quyết vấn đề” (Marchionini, 1995).5) định nghĩa tìm kiếm thông tin như “một sự nỗ lực nhận thức để thu thập thông tin nhằm thoả mãn nhu cầu hay giảm lỗ hổng trong kiến thức của một người nào đó để tìm kiếm câu trả lời, giảm sự mơ hồ khi ra quyết định. Tương tự, định nghĩa của Ford (2004) cũng cho rằng tìm kiếm thông tin liên quan đến các hoạt động mà cá nhân thực hiện với mong muốn thu thập thông tin liên quan đến một vấn đề hay nhiệm vụ nào đó.
Wu (2011) cho rằng tìm kiếm thông tin là kết quả từ việc nhận thức được một số nhu cầu nào đó, dẫn đến việc tra cứu, trích lọc, và sử dụng thông tin cho một mục đích cụ thể khi một cá nhân không có đủ kiến thức trước đó. Con người có thể tìm kiếm thông tin vì những mục đích khác nhau. Vì vậy, tìm kiếm thông tin liên quan đến rất nhiều hành vi được thể hiện nhằm giảm lỗ hổng trong kiến thức của một cá nhân nào đó. Những hành vi này bao gồm hành vi tra cứu thông tin như tra cứu, thu thập, xử lý, tổ chức và trình bày thông tin (Brand-Gruwel, Wopereis, &Vermetten, 2005).
Đó cũng là một quá trình diễn ra liên tục, liên quan đến hành vi chủ động và bị động, giao tiếp chính thức và không chính thức. Tác giả chỉ ra rằng đó chính là chu trình tạo lập, sử dụng và tìm kiếm thông tin được xem xét như hàng 17 loạt giai đoạn chuyển đổi qua lại, và họ có thể tạo lập, sử dụng và tìm kiếm thông tin một cách chủ động và đồng thời. Vì vậy, hành vi tìm kiếm thông tin chính là thể hiện nhu cầu tin của một người hay nhóm người (Borgman, 2000). Trong nghiên cứu, hành vi tìm kiếm thông tin là một khía cạnh của hành vi thông tin.
Khi đề cập đến hành vi tìm kiếm thông tin, ngay từ năm 1976, Stephen Feinman và các đồng nghiệp (1976, p.35) đã định nghĩa hành vi tìm kiếm thông tin “là các hoạt động cụ thể được một cá nhân thực hiện nhằm thoả mãn nhu cầu tin”. Tương tự, cho đến giai đoạn sau đó, Krikelas (1983, p.6) cũng xác định rằng hành vi tìm kiếm thông tin là bất kỳ hoạt động nào của cá nhân được thực hiện để xác định thông tin nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức. Với định nghĩa này, hành vi tìm kiếm thông tin được xem là “hoạt động” và bao gồm tất cả các hoạt động được người dùng tin thực hiện nhằm có được thông tin. Khi nhận thức được nhu cầu tin chính là đánh dấu bước khởi đầu của quá trình tìm kiếm thông tin (Shenton & Dixon, 2003a).
Wilson (1999) mô tả hành vi tìm kiếm thông tin là tìm kiếm thông tin có mục đích, là kết quả của nhu cầu cần thoả mãn một số mục tiêu nhất định. Trong quá trình tìm kiếm thông tin, cá nhân có thể tương tác với hệ thống thông tin thường xuyên (như tờ báo hay thư viện), hoặc tương tác với hệ thống dựa trên máy tính (như World Wide Web) (Wilson (2000).73) định nghĩa hành vi tìm kiếm thông tin là một khái niệm mô tả tất cả hoạt động được thực hiện nhằm thu thập thông tin mà cá nhân mong muốn, cần hay yêu cầu (thậm chí ở mức độ vô thức) nhằm thực hiện một nhiệm vụ, giảm sự mơ hồ hay thoả mãn nhu cầu biểu hiện hoặc nhu cầu không biểu hiện. Tác giả cũng chỉ ra rằng có thể nghiên cứu hành vi tìm kiếm thông tin ở mức độ vĩ mô (như là khảo sát việc sử dụng các dịch vụ thông tin) hay ở mức độ vi mô (bao gồm người dùng tin định vị các nguồn thông tin như thế nào trong một dịch vụ, trong một thư viện). Ở định nghĩa này, hành vi tìm kiếm thông tin đã được phân tích gắn liền với nhu cầu nghiên 18 cứu xa hơn về hành vi tìm kiếm thông tin của các nhà nghiên cứu.
Có thể thấy, cách định nghĩa này tương đối gần gũi với cách tiếp cận hiện nay của các nhà cung ứng dịch vụ thông tin cũng như các nhà nghiên cứu về hành vi thông tin, hành vi tìm kiếm thông tin. Hành vi tìm kiếm thông tin liên quan đến nhiều hoạt động, bao gồm tập hợp các hoạt động mà cá nhân thực hiện để thể hiện nhu cầu tin của bản thân, tìm kiếm thông tin, đánh giá và lựa chọn thông tin, và cuối cùng là sử dụng thông tin để thoả mãn nhu cầu tin của cá nhân đó (Majid and Kassim, 2000). Hay đó là quá trình tìm kiếm thông tin với các hoạt động như bắt đầu, tạo chuỗi, lướt, phân biệt, kiểm tra (Ellis, 2005, p. Ingwersen & Järvelin (2005, p.
386) cho rằng, hành vi tìm kiếm thông tin là một loại hình hành vi của con người liên quan đến quá trình tìm kiếm thông tin nhằm mục đích đánh giá chủ động các nguồn tin hay hệ thống tìm tin để thoả mãn nhu cầu tin hay giải quyết vấn đề. Để thu thập thông tin, người dùng tin phải lựa chọn và tương tác thông tin từ một nguồn, hệ thống, kênh hay dịch vụ thông tin cụ thể. Với cách định nghĩa từ quan điểm nhận thức, hiểu một cách đơn giản, tìm kiếm thông tin liên quan đến quá trình tra cứu, nhận thức và ứng dụng vào bối cảnh có ý nghĩa. Tìm kiếm thông tin được xem là một hoạt động nhận thức, là sự trao đổi mang tính văn hoá và xã hội, là những chiến thuật cụ thể được vận dụng khi đối mặt với sự không chắc chắn, sự mơ hồ, và là một điều kiện cơ bản của con người trong sự tồn tại của mỗi cá nhân (Kingrey, Kelly Patricia (2005, p.
Tương tự, Spink & Cole, 2006 cho rằng hành vi tìm kiếm thông tin là một thành phần của hành vi thông tin, là hành vi tìm kiếm thông tin có chủ đích liên quan đến một mục đích nhất định (Spink & Cole, 2006, p. Hành vi tìm kiếm thông tin nhìn chung được hiểu như một hành vi chủ động hoặc có ý thức, được thúc đẩy bởi nhu cầu hiểu biết hay xuất phát từ lỗ hổng kiến thức của một cá nhân nào đó. 19 Hành vi tìm kiếm thông tin được thể hiện dưới các hình thức khác nhau, bao gồm các hoạt động như việc đọc tài liệu in cho đến hoạt động nghiên cứu hay thực nghiệm (Bhatti, 2009).