phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chƣơng : -Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của khoán kinh phí trong thực hiện nhiệm vụ KH&CN của nhà nƣớc -Chƣơng 2: Hiện trạng về thực hiện khoán kinh phí trong thực hiện các nhiệm vụ KH&CN -Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện chính sách khoán kinh phí 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA KHOÁN KINH PHÍ TRONG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KH&CN CỦA NHÀ NƢỚC 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm “nghiên cứu và triển khai” Nghiên cứu và triển khai (R&D) là hoạt động sáng tạo đƣợc thực hiện một cách có hệ thống để tăng cƣờng vốn tri thức, bao gồm tri thức về con ngƣời, văn hoá, xã hội, và sử dụng vốn tri thức này để tìm ra các ứng dụng mới5.
Thuật ngữ R&D bao hàm 3 loại hoạt động: Nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm 1. Các loại hình nghiên cứu và triển khai -Nghiên cứu cơ bản: Là công việc thực nghiệm hoặc lý thuyết đƣợc thực hiện chủ yếu để nhận đƣợc tri thức mới về nền tảng nằm bên dƣới hiện tƣợng hoặc sự việc quan sát đƣợc, không nhằm vào bất kỳ một ứng dụng hoặc sử dụng cụ thể nào. Nghiên cứu cơ bản đƣợc phân thành hai loại: nghiên cứu cơ bản thuần tuý và nghiên cứu cơ bản có định hƣớng. Đối với nghiên cứu cơ bản thuần tuý là những nghiên cứu đƣợc thực hiện để thúc đẩy sự tiến bộ của tri thức mà không nhằm tìm kiếm các lợi ích kinh tế hoặc xã hội lâu dài hoặc không có bất cứ một cố gắng nào để đem ứng dụng kết quả vào các vấn đề thực tiễn hoặc chuyển giao kết quả cho các khu vực chịu trách nhiệm ứng dụng chúng.
Nghiên cứu cơ bản có định hƣớng đƣợc thực hiện với hy vọng đem lại một cơ sở tri thức rộng lớn có thể tạo nền tảng cho việc giải quyết các vấn đề hiện tại hoặc tƣơng lai, đã đƣợc nhận biết hoặc đƣợc kỳ vọng. 5 Khuyến nghị tiêu chuẩn thực tiễn cho điều tra nghiên cứu và phát triển-Tài liệu hướng dẫn Frascati 2002 của tổ chức OECD, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, 2004 (Trong tiếng Anh, “R&D” : Research and Experimental Development , có nghĩa là Nghiên cƣú và triển khai thực nghiệm. Đề tài sử dụng thuật ngữ nghiên cứu-triển khai cho sát với thuật ngữ tiếng Anh) 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -Nghiên cứu ứng dụng: Cũng là hoạt động nghiên cứu ban đầu để nhận đƣợc các tri thức mới, nhƣng chủ yếu nhằm vào một mục đích hoặc mục tiêu thực tế cụ thể. -Triển khai thực nghiệm: Là hoạt động mang tính hệ thống, dựa vào tri thức hiện có, đƣợc tiếp thu từ công việc nghiên cứu hoặc kinh nghiệm thực tiễn, nhằm tạo ra các vật liệu, sản phẩm và thiết bị mới, lập ra các quy trình, hệ thống và dịch vụ mới, hoặc cải tiến đáng kể những thứ đã đƣợc sản xuất hoặc lập ra.
Trong khoa học xã hội, có thể định nghĩa triển khai thực nghiệm là quá trình biến tri thức nhận đƣợc từ nghiên cứu thành các chƣơng trình tác nghiệp, kể cả các dự án trình diễn đƣợc thực hiện nhằm mục đích thử nghiệm và đánh giá. Nhiệm vụ KH&CN Nhiệm vụ khoa học và công nghệ là những vấn đề khoa học và công nghệ cần đƣợc giải quyết, đƣợc tổ chức thực hiện dƣới hình thức đề tài, dự án, chƣơng trình khoa học và công nghệ, mỗi hình thức có mục đích khác nhau. -Đề tài: Có nội dung chủ yếu nghiên cứu về một chủ đề khoa học và công nghệ. Mục đích của đề tài là định hƣớng vào trả lời những câu hỏi về ý nghĩa học thuật, chƣa quan tâm nhiều đến việc hiện thực hoá trong hoạt động thực tế.
Đề tài có thể dừng ở khâu nghiên cứu khoa học nhƣng nhánh đề tài nghiên cứu ứng dụng thì kéo dài đến cả giai đoạn triển khai thực nghiệm. Đề tài có thể độc lập hoặc thuộc dự án, chƣơng trình khoa học và công nghệ. -Dự án: có nội dung chủ yếu tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ; áp dụng, thử nghiệm các giải pháp, phƣơng pháp, mô hình quản lý kinh tế - xã hội. Cụ thể hơn, dự án là một loại đề tài có mục đích ứng dụng xác định, cụ thể về kinh tế và xã hội.
Dự án có những đòi hỏi khác đề tài nhƣ: đáp ứng một nhu cầu đã đƣợc nêu ra; chịu sự ràng buộc của kỳ hạn và thƣờng là ràng buộc về nguồn lực. Dự án có thể độc lập hoặc thuộc chƣơng trình khoa học và công nghệ. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -Chương trình khoa học và công nghệ bao gồm một nhóm các đề tài, dự án, đƣợc tập hợp theo một mục đích xác định nhằm thực hiện mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ cụ thể hoặc ứng dụng trong thực tiễn. Giữa các đề tài, dự án thuộc một chƣơng trình có thể có tính độc lập tƣơng đối cao, nhƣng những nội dung của một chƣơng trình phải đảm bảo tính đồng bộ.
Các nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nƣớc theo quy định trong Luật KH&CN đƣợc tổ chức dƣới hình thức chƣơng trình, đề tài, dự án và các hình thức khác. Theo phân cấp quản lý các nhiệm vụ KH&CN, chúng ta có nhiệm vụ KH&CN cấp nhà nƣớc, nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ, cấp tỉnh và nhiệm vụ nghiên cứu cấp cơ sở. Đối với các nhiệm vụ KH&CN cấp Nhà nƣớc và cấp Bộ có sử dụng ngân sách nhà nƣớc thì thƣờng hay đƣợc sử dụng nhất, kế cả các nhiệm vụ KH&CN thuộc chƣơng trình KH&CN là đề tài và dự án sản xuất thử nghiệm. Nhƣng ở cấp tỉnh thì thƣờng tập trung ở hai dạng: đề tài và dự án ứng dụng KH&CN.
Trong phạm vi khuôn khổ của nghiên cứu này thì khái niệm về các nhiệm vụ KH&CN của nhà nƣớc đƣợc coi là các đề tài, dự án KH&CN. Có một điểm rất chung giữa các nhiệm vụ KH&CN đã nêu ở trên đó là đều sử dụng các yếu tố đầu vào thể hiện dƣới các nội dung công việc: điều tra, khảo sát, hội nghị, hội thảo; một số nhân lực KH&CN; một số trang thiết bị và một số nguyên vật liệu cần thiết,…để đạt đƣợc các sản phẩm KH&CN. Vì vậy, chất lƣợng của sản phẩm đạt đƣợc phụ thuộc cơ bản vào các yếu tố đầu vào này. Sản phẩm của hoạt động nghiên cứu và triển khai Trong mọi trƣờng hợp, sản phẩm của hoạt động nghiên cứu và triển khai là thông tin, bất kể đó là khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học công nghệ.
Tuy nhiên chúng ta không thể tiếp xúc trực tiếp với thông tin, mà chỉ có thể tiếp xúc với thông tin qua các phƣơng tiện trung gian là vật mang thông tin. Vật mang thông tin về các kết quả nghiên cứu khoa học có thể bao gồm: vật mang vật lý, vật mang công nghệ, vật mang xã hội. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuỳ thuộc tính chất của từng đề tài mà có các dạng sản phẩm: -Sản phẩm có chỉ tiêu định lƣợng có thể đo đếm đƣợc: mẫu, vật liệu, thiết bị, máy móc, giống cây trồng, vật nuôi,… -Sản phẩm mang tính chất định tính hoặc chủ yếu là định tính, khó xác định đƣợc bằng các chỉ tiêu định lƣợng cụ thể: quy trình công nghệ, phƣơng pháp, giải pháp, mô hình, bản đồ, bảng số liệu,… Các sản phẩm của các hoạt động nghiên cứu và triển khai còn đƣợc thể hiện dƣới các hình thức: các bài báo (trong đó chứa đựng các sản phẩm là các phát hiện, phát minh) và sáng chế; sản phẩm có thể bao gồm cả sản phẩm đào tạo (đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ). Cũng có quan niệm cho rằng, sản phẩm của hoạt động KH&CN gồm có ba loại: Thứ nhất là các công bố khoa học dƣới dạng các bài báo gốc trình bày các kết quả mới đƣợc công bố trên các tạp chí có uy tín có sự phản biện của các chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn; Thứ hai là các bằng sáng chế đƣợc bảo hộ trong và ngoài nƣớc bởi các cơ quan chuyên môn; Thứ ba là những nghiên cứu ứng dụng, thực chất là việc thử nghiệm các kết quả có sẵn ở điều kiện cụ thể nào đó, nhất là điều kiện trong nƣớc6 Khi xem xét các sản phẩm của nghiên cứu và triển khai ở các khía cạnh “khả năng áp dụng vào sản xuất/đời sống” và “giá trị thƣơng mại” thì không phải loại sản phẩm nào cũng có thể áp dụng trực tiếp đƣợc vào sản xuất hay đời sống ngay hay cũng chƣa thể có giá trị thƣơng mại đƣợc.
Bảng 1: So sánh phát hiện, phát minh, sáng chế 7 Phát hiện Phát minh Sáng chế Khả năng áp Không trực tiếp, Không trực Có thể áp dụng dụng vào sản sản mà phải qua các tiếp, mà phải trực tiếp hoặc phải xuất và đời sống giải pháp vận qua sáng chế qua thử nghiệm 6 Lê Trần Bình, Đổi mới cơ chế tài chính trong hoạt động KH&CN, http: www.vn, cập nhật ngày 21/8/2008 7 Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2005 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dụng Giá trị thƣơng Không Không Mua bán patent và mại licence (Nguồn: Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB KH&KT, Hà Nội, 2005) 1. Chính sách KH&CN Chính sách là tập hợp biện pháp của một chủ thể quản lý, nhằm kích thích động cơ hoạt động của một hoặc một số nhóm có vai trò động lực trong việc thực hiện mục tiêu phát triển xã hội8. Theo UNESCO định nghĩa, “Chính sách KH&CN là một tập hợp các biện pháp lập pháp và hành pháp được thực thi nhằm nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN quốc gia với mục tiêu đạt được mục đích phát triển quốc gia và nâng cao vị trí quốc gia trên thế giới”. Chính sách KH&CN là những phƣơng châm, điều lệ, quy định.
Đó là những nguyên tắc và quy tắc của một nhà nƣớc, một ngành trong một thời kỳ nhất định và với một mục tiêu chiến lƣợc nhất định đặt ra nhằm phát triển KH&CN9. Nhƣ vậy, có thể hiểu chính sách KH&CN là một tập hợp các biện pháp mà chủ thể quản lý sử dụng để tác động lên đối tƣợng quản lý (các tổ chức KH&CN) nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đề ra trong từng giai đoạn nhất định. Chính sách khoán kinh phí trong thực hiện các đề tài, dự án là chính sách KH&CN. Vì vậy nó là biện pháp mà các nhà quản lý KH&CN xây dựng và sử dụng để làm công cụ quản lý các đề tài, dự án .