Chương 1. KHÁI LUẬN VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY 1. Khái niệm và bản chất pháp lý của góp vốn thành lập công ty 1. Hệ quả pháp lý của việc góp vốn thành lập công ty 1.
Hình thức và thủ tục góp vốn 1. Các hình thức của vốn góp 1. Xử lý vi phạm nghĩa vụ góp vốn Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY 2.
Cấu trúc và sự phát triển của pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập công ty 2. Quy định của pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập công ty và những khiếm khuyết 2. Nguyên nhân của những khiếm khuyết trong quy định của pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập công ty Chương 3. NHỮNG KIẾN NGHỊ CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY 3.
Nhu cầu hoàn thiện 3. Phương hướng hoàn thiện 3. Những kiến nghị chủ yếu nhằm hoàn thiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty LUAN VAN CHAT LUONG download 11 : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 KHÁI LUẬN VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY 1. KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT PHÁP LÝ CỦA GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY 1.
Khái niệm góp vốn thành lập công ty Công ty ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế - xã hội và lịch sử nhất định. Lịch sử phát triển của công ty gắn với lịch sử phát triển của hoạt động thương mại và sự phát triển của lực lượng sản xuất với những tiến bộ về kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đại. Sự ra đời của công ty là kết quả tất yếu của quá trình phát triển kinh tế hàng hoá. Theo quan niệm chung, có thể hiểu: Công ty kinh doanh là một thực thể kinh doanh được tạo lập trên cơ sở vốn góp của một hay nhiều người.
Thông thường Công ty được chia làm 2 loại chính là Công ty đối nhân và Công ty đối vốn. Loại thứ nhất, Công ty đối nhân là công ty được thành lập trên cơ sở sự liên kết giữa những người có uy tín, quen biết và tin cậy lẫn nhau, yếu tố nhân thân được đề cao trong quá trình liên kết thành lập Công ty [18, tr. Công ty đối nhân thường tồn tại dưới hai dạng cơ bản là công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản. Đối với công ty hợp danh, các thành viên cùng tiến hành hoạt động thương mại dưới một hãng chung và cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của Công ty.
Còn ở công ty hợp vốn đơn giản có ít nhất một thành viên chịu trách nhiệm vô hạn (thành viên nhận vốn), còn những thành viên khác chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong số vốn góp vào Công ty (thành viên góp vốn). Loại thứ hai, Công ty đối vốn là loại công ty mà những thành viên tham gia phải góp một phần vốn xác định tạo nên vốn, tài sản riêng của Công ty trong quá trình hoạt động kinh doanh. ở Công ty đối vốn yếu tố nhân thân của LUAN VAN CHAT LUONG download 12 : add luanvanchat@agmail.com người góp vốn thường ít được quan tâm mà vấn đề vốn góp được đề cao. Các thành viên Công ty đối vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ của Công ty nghĩa là họ chỉ chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ của Công ty trong phạm vi phần vốn mà họ góp vào Công ty [18, tr.
Các công ty đối vốn thông thường có công ty cổ phân, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp vốn cổ phần. Nói chung ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, các loại hình công ty đã ra đời từ rất sớm, các công ty thương mại đối nhân đầu tiên ra đời vào khoảng thế kỷ thứ XIII ở các thành phố lớn ở Châu Âu, sang thế kỷ XVII xuất hiện các công ty đối vốn. Ban đầu chúng được hình thành một cách tự nhiên xuất phát từ nhu cầu kinh doanh và lập hội của các thương gia sau đó Luật Công ty đã ra đời để ghi nhận và điều chỉnh hoạt động của các loại hình công ty nhằm đảm bảo an toàn cho quá trình kinh doanh. Hiện nay, theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, ở Việt Nam có 3 hình thức Công ty là Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn (gồm 2 loại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên) và Công ty hợp danh.
Sự phát triển của công ty trước tiên xuất phát từ nhu cầu tự nhiên. Ban đầu các thương nhân hoạt động kinh doanh đơn lẻ, nhưng với sự phát triển và mở rộng của hoạt động thương mại và sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt đòi hỏi các thương nhân phải có sự liên kết hùn vốn với nhau để kinh doanh nhằm tăng sức cạnh tranh và mở rộng hoạt động kinh doanh. Hoạt động thương mại phát triển đòi hỏi các thương gia phải có sự liên kết hùn vốn với nhau để buôn bán. Việc tích lũy vốn, “hùn vốn”, “gom vốn” cho hoạt động kinh doanh đã thúc đẩy các nhà tư bản phải tìm đến những hình thức tổ chức kinh doanh mới.
Sự góp vốn theo hình thức công ty chính là đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế. Hơn nữa, nền kinh tế ngày càng phát triển thì LUAN VAN CHAT LUONG download 13 : add luanvanchat@agmail.com càng có nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực kinh doanh mới ra đời, tạo ra những cơ hội và khả năng thu hút nhà đầu tư gặp gỡ hợp tác kinh doanh với nhau trên cơ sở góp vốn thành lập một thực thể kinh doanh - đó chính là công ty. Như vậy, góp vốn trước hết là nhu cầu tự nhiên để phục vụ hoạt động kinh doanh của một nhóm người. Sau đó, mới tạo nên một thực thể mới là công ty.
Khi pháp luật có sự điều chỉnh đối với việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty, thì công ty phải được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật. Công ty trở thành một thực thể pháp lý, mang các quyền và nghĩa vụ pháp lý do pháp luật quy định. Sự quy định của pháp luật về thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty trong đó có việc góp vốn thành lập công ty đã đưa việc góp vốn thành lập công ty từ quan hệ xã hội trở thành quan hệ pháp luật với sự điều chỉnh của pháp luật về góp vốn thành lập công ty. Vậy, góp vốn thành lập công ty ban đầu xuất phát từ nhu cầu tự nhiên của các thương gia mang tính riêng lẻ, sau đó được pháp luật về công ty quy định chung cho hoạt động góp vốn thành lập công ty trong một cộng đồng chính trị nhất định.
Vậy góp vốn thành lập công ty là gì? Theo Bộ luật dân sự của nước cộng hoà Pháp, công ty do hai hay nhiều người thành lập trên cơ sở thỏa thuận bằng hợp đồng về việc đóng góp, sử dụng tài sản hoặc công sức của họ vào hoạt động kinh doanh chung nhằm chia lãi hoặc thu lợi Trong những trường hợp do pháp luật quy định, công ty có thể do một người thành lập. Các thành viên công ty cam kết cùng chịu lỗ. [Điều 1832] LUAN VAN CHAT LUONG download 14 : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, có thể hiểu góp vốn thành lập công ty là việc một hay nhiều người đóng góp tài sản, tri thức hoặc công sức của họ vào hoạt động kinh doanh dưới hình thức công ty nhằm thu lợi hoặc chia lãi. Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2005, Điều 4, khoản 4 “Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty.
Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty.” Góp vốn theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sử hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty. Quy định của pháp luật Việt Nam mới chỉ đề cập đến việc góp vốn bằng tài sản và liệt kê các loại tài sản được góp vốn. Sự liệt kê thì không thể tránh khỏi sự không đầy đủ, do vậy Luật Doanh nghiệp 2005 đã mở ra cho phép các chủ thể có thể thỏa thuận xác định những loại tài sản khác được góp vốn. Qua các phân tích trên có thể hiểu theo nghĩa chung nhất, Góp vốn thành lập công ty là việc tạo lập ra công ty thông qua việc chuyển giao tài sản, tri thức hoặc công sức của người góp vốn để hình thành vốn của công ty.
Bản chất pháp lý của góp vốn thành lập công ty Công ty thường được xem xét trên hai phương diện: kinh tế và pháp lý. Trên phương diện kinh tế, công ty được xem là một doanh nghiệp hay một thực thể kinh doanh. Và trên phương diện pháp lý, công ty được xem là hành vi pháp lý hay hành vi thương mại. Do đó góp vốn cũng được hiểu theo nghĩa kinh tế và nghĩa pháp lý, có nghĩa là cần xem xét khái niệm góp vốn từ phương diện kinh tế và từ phương diện pháp lý.
Nếu như xét từ phương diện kinh tế, góp vốn là việc tạo ra tài sản cho công ty nhằm bảo đảm cho những chi phí trong hoạt động của công ty và bảo LUAN VAN CHAT LUONG download 15 : add luanvanchat@agmail.com đảm quyền lợi cho các chủ nợ. Khi góp tài sản vào công ty, thì tài sản đó trở thành đối tượng sở hữu của công ty bởi hợp đồng thành lập công ty đã tạo ra một thực thể tách biệt có sản nghiệp riêng. Mỗi thành viên của công ty có được từ hành vi góp vốn này một quyền lợi đối với công ty tương ứng với phần vốn góp của mình xét theo lẽ thông thường. Tuy nhiên, các quyền lợi và nghĩa vụ của thành viên còn phụ thuộc vào các quy định của hợp đồng thành lập hay điều lệ của công ty hoặc pháp luật.
Xét từ phương diện pháp lý, thì góp vốn là hành vi chuyển giao tài sản hay đưa tài sản vào sử dụng để đổi lấy quyền lợi đối với công ty.