Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Dù người sử dụng đất không có quyền sở hữu đối với đất đai, quyền sử dụng đất (QSDĐ) được pháp luật thừa nhận là một loại tài sản, một loại hàng hóa đặc biệt có giá trị kinh tế và được phép tham gia vào các giao dịch dân sự, thương mại. Quyền góp vốn bằng QSDĐ đã được ghi nhận từ sớm trong hệ thống pháp luật Việt Nam (từ Điều lệ đầu tư nước ngoài năm 1977, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Đất đai năm 2013, Luật Đất đai năm 2024, Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Luật Đầu tư năm 2020). Hình thức này đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác tối ưu nguồn lực đất đai, giảm thiểu các xung đột về thu hồi đất và giải phóng mặt bằng, đồng thời tạo điều kiện cho các chủ thể cùng chia sẻ lợi ích từ hoạt động kinh doanh dự án.

Tại tỉnh Lâm Đồng, sau khi kiểm soát được đại dịch COVID-19, thị trường bất động sản và hoạt động đầu tư dự án du lịch (DADL) đã có những chuyển biến rõ nét nhờ tiềm năng lớn về cảnh quan thiên nhiên và khí hậu. Tuy nhiên, hoạt động góp vốn bằng QSDĐ vào các dự án du lịch trên địa bàn tỉnh vẫn chiếm tỷ lệ khiêm tốn so với các phương thức truyền thống như thuê đất hoặc chuyển nhượng QSDĐ. Doanh nghiệp thường e ngại rủi ro pháp lý nên lựa chọn nhận chuyển nhượng hoặc đề nghị Nhà nước giao đất, dẫn đến tình trạng khiếu kiện đất đai còn tiềm ẩn phức tạp. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật hiện hành vẫn tồn tại những điểm chưa đồng bộ giữa Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư về khái niệm "góp vốn bằng QSDĐ" và "góp vốn bằng giá trị QSDĐ", cũng như cơ chế xử lý quyền sử dụng đất khi chấm dứt hoạt động kinh doanh.

Xuất phát từ thực trạng trên, đề án tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Luật Kinh tế (Mã số: 8 38 01 07) của học viên Lương Thị Xuân Thư, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Ngọc Anh Đào tại Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2024), đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Pháp luật Việt Nam về góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án du lịch - Thực tiễn tại tỉnh Lâm Đồng".

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề án được xác định cụ thể:

  1. Phân tích, làm sáng tỏ cơ sở lý luận và các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh hoạt động góp vốn bằng QSDĐ để thực hiện dự án du lịch;
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng thực thi pháp luật về góp vốn bằng QSDĐ trong các dự án du lịch tại tỉnh Lâm Đồng từ giai đoạn phục hồi sau đại dịch COVID-19 (từ năm 2021 đến nay), chỉ ra các kết quả đạt được cùng những bất cập, vướng mắc pháp lý;
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan và nâng cao hiệu quả thi hành trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật Việt Nam về góp vốn bằng QSDĐ để thực hiện DADL và thực tiễn thi hành các quy định này trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
  • Phạm vi nội dung: Đề án tập trung nghiên cứu hoạt động góp vốn bằng QSDĐ của hộ gia đình, cá nhân để thực hiện DADL theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp đồng BCC) không hình thành pháp nhân mới và góp vốn vào doanh nghiệp, đối chiếu giữa Luật Đất đai năm 2013, Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn từ năm 2021 trở lại đây.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Đề án được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, dựa trên quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (đặc biệt là Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/6/2017), nguyên tắc chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và định hướng phát triển thị trường bất động sản du lịch bền vững.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và cơ sở lý thuyết làm nền tảng phân tích bao gồm:

  • Văn bản luật: Hiến pháp năm 2013 (Điều 53), Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 500, Điều 504), Luật Đất đai năm 2013 (Điều 3, 73, 95, 118, 126, 153, 167, 174, 179, 188, 193), Luật Đất đai năm 2024 (Điều 3, 27, 33, 37, 45, 119, 124, 127, 136, 141, 183, 193, 206), Luật Doanh nghiệp năm 2020 (Điều 4, Điều 34), Luật Đầu tư năm 2020 (Điều 3, Điều 28, Điều 41), Luật Du lịch năm 2017 (Điều 3), Luật Di sản văn hóa.
  • Văn bản dưới luật: Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, Nghị định số 01/2017/NĐ-CP, Nghị định số 148/2020/NĐ-CP, Nghị định số 109/2017/NĐ-CP; Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT, Thông tư số 09/2021/TT-BTNMT và Thông tư số 14/2023/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả sử dụng:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được vận dụng xuyên suốt đề án để mổ xẻ các khái niệm pháp lý, phân tích bản chất của hành vi góp vốn bằng QSDĐ, điều kiện, trình tự thủ tục và hệ quả pháp lý khi thực hiện hợp đồng góp vốn.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: Sử dụng để phân biệt giữa góp vốn bằng QSDĐ thực hiện dự án du lịch với các dự án sử dụng đất thông thường; so sánh giữa quy định của Luật Đất đai năm 2013 và Luật Đất đai năm 2024; so sánh thực tiễn tại Lâm Đồng với một số địa phương có đặc thù tài nguyên tương đồng.
  • Phương pháp thống kê, tổng hợp dữ liệu: Áp dụng tại Chương 2 nhằm tập hợp các danh mục dự án đầu tư du lịch kêu gọi đầu tư giai đoạn 2021 - 2025 tại Lâm Đồng và đánh giá thực tiễn áp dụng các thủ tục hành chính về đất đai.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Quy định pháp luật Việt Nam hiện nay về góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án du lịch

Chương 1 tập trung xây dựng khung lý luận và phân tích các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ góp vốn bằng QSDĐ trong lĩnh vực du lịch.

  1. Khái niệm và đặc điểm của dự án du lịch: Theo Luật Du lịch năm 2017, dự án du lịch hướng tới việc phục vụ nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí của du khách. Dự án du lịch có 5 đặc điểm cơ bản:

    • Mục đích sử dụng: Phục vụ lưu trú, nghỉ dưỡng kết hợp giải trí, khám phá cảnh quan và văn hóa;
    • Thời gian hoàn vốn dài: Dao động từ 10 đến 15 năm do đặc thù lưu trú ngắn hạn;
    • Thị trường khách hàng: Hướng đến cả du khách nội địa và quốc tế, đòi hỏi chất lượng dịch vụ tích hợp;
    • Vòng đời vận hành kéo dài: Chủ đầu tư chịu trách nhiệm quản lý, vận hành xuyên suốt chu kỳ dự án (từ 50 đến 70 năm);
    • Xu hướng phát triển: Chuyển dịch mạnh sang các mô hình tích hợp sinh thái, nghỉ dưỡng thân thiện môi trường (resort, condotel, homestay, farmstay).
  2. Bản chất pháp lý của việc góp vốn bằng QSDĐ: Góp vốn bằng QSDĐ là hành vi chuyển giao quyền tài sản của bên sử dụng đất cho bên nhận góp vốn để cùng sản xuất, kinh doanh. Trong đó, đề án nhấn mạnh sự khác biệt giữa hai hình thức:

    • Góp vốn hình thành pháp nhân mới (chuyển giao toàn bộ quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp);
    • Góp vốn theo Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC - Điều 504 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 28 Luật Đầu tư năm 2020 và khoản 26 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024), trong đó người sử dụng đất dùng QSDĐ để hợp tác mà không làm chuyển dịch quyền sử dụng đất sang chủ thể khác.
  3. Phân biệt góp vốn bằng QSDĐ thực hiện dự án du lịch với dự án thông thường: Tác giả hệ thống hóa các tiêu chí phân định cụ thể qua bảng so sánh:

Tiêu chí Dự án du lịch Dự án thông thường
Loại dự án Khu nghỉ dưỡng, khách sạn, khu vui chơi giải trí, khu du lịch sinh thái... Dự án nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, nhà ở, dịch vụ phi du lịch...
Mục đích sử dụng đất Phục vụ trực tiếp cho hoạt động du lịch, nghỉ dưỡng, giải trí kết hợp sinh thái. Phục vụ sản xuất công nghiệp, thương mại, nhà ở hoặc sản xuất nông nghiệp thuần túy.
Yêu cầu pháp lý đặc thù Tuân thủ quy hoạch du lịch, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, di sản văn hóa (Luật Di sản văn hóa), đánh giá tác động môi trường nghiêm ngặt. Tuân theo quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội tổng thể chung.
Thời hạn sử dụng đất Giao đất/thuê đất theo thời hạn dự án đầu tư (không quá 50 năm, vùng khó khăn không quá 70 năm). Dự án nhà ở để bán có thể ổn định lâu dài; các dự án khác theo thời hạn ghi nhận trong giấy chứng nhận đầu tư.
Cơ chế chuyển quyền sử dụng đất Theo hình thức BCC: Không làm chuyển dịch quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân; có thể bảo lưu mục đích sử dụng đất nông nghiệp/rừng kết hợp. Thường bắt buộc chuyển quyền sử dụng đất cho chủ đầu tư và phải chuyển mục đích sang đất ở hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp.
Thủ tục phê duyệt Cần có sự phê duyệt/chấp thuận từ cơ quan quản lý đầu tư và cơ quan quản lý chuyên ngành về du lịch, môi trường, di sản. Phê duyệt bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo phân cấp quy định tại Luật Đầu tư và pháp luật chuyên ngành tương ứng.
  1. Nội dung quy định về điều kiện, trình tự và hợp đồng góp vốn:

    • Điều kiện QSDĐ tham gia góp vốn: Có Giấy chứng nhận QSDĐ; đất không có tranh chấp; QSDĐ không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; trong thời hạn sử dụng đất; không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính với Nhà nước (Điều 188 Luật Đất đai năm 2013, Điều 45 Luật Đất đai năm 2024).
    • Điều kiện bên nhận góp vốn: Dự án phải phù hợp với kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện; trường hợp nhận góp vốn bằng đất nông nghiệp phải được UBND cấp tỉnh chấp thuận bằng văn bản (văn bản chấp thuận có hiệu lực 36 tháng).
    • Định giá và thời hạn góp vốn: Giá trị QSDĐ góp vốn do các bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn bảng giá đất do Nhà nước ban hành; thời hạn góp vốn tối đa không được vượt quá thời hạn sử dụng đất còn lại hoặc thời hạn thực hiện dự án.
    • Trình tự thực hiện: Ký kết hợp đồng (công chứng/chứng thực) $\rightarrow$ Nộp hồ sơ đăng ký biến động tại Văn phòng Đăng ký đất đai/Chi nhánh VPĐKĐĐ hoặc UBND cấp xã theo quy định tại Thông tư 24/2014/TT-BTNMT $\rightarrow$ Cơ quan thẩm quyền xác nhận biến động vào Giấy chứng nhận và cập nhật hồ sơ địa chính. Giao dịch chỉ có hiệu lực pháp lý khi được đăng ký vào sổ địa chính.
    • Xử lý khi chấm dứt góp vốn: Theo Điều 80 Nghị định 43/2014/NĐ-CP và Nghị định 01/2017/NĐ-CP, khi hết hạn góp vốn hoặc có thỏa thuận chấm dứt, người góp vốn bằng QSDĐ theo hình thức hợp tác kinh doanh được tiếp tục sử dụng đất trong thời hạn còn lại.
  2. Các yếu tố tác động đến pháp luật về góp vốn bằng QSDĐ: Đề án chỉ ra 3 yếu tố nền tảng chi phối: Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; Quan điểm phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN của Đảng và Nhà nước; Đặc thù của QSDĐ và các hình thức giao đất, cho thuê đất của Nhà nước.


Chương 2: Thực tiễn thực hiện tại tỉnh Lâm Đồng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về góp vốn bằng quyền sử dụng đất nhằm thực hiện dự án du lịch

Chương 2 phản ánh bức tranh áp dụng pháp luật tại địa bàn tỉnh Lâm Đồng và đề xuất giải pháp.

  1. Thực trạng triển khai tại tỉnh Lâm Đồng:

    • Việc góp vốn bằng QSDĐ diễn ra chủ yếu qua hai phương thức: (i) Hợp tác kinh doanh (BCC) giữa hộ gia đình, cá nhân có đất với chủ đầu tư phát triển các mô hình du lịch sinh thái, homestay, farmstay, nghỉ dưỡng nông nghiệp; (ii) Góp vốn vào doanh nghiệp đã thành lập để thực hiện các dự án quy mô lớn nằm trong danh mục kêu gọi đầu tư của tỉnh giai đoạn 2021 - 2025.
    • Ưu điểm: Phương thức góp vốn giúp doanh nghiệp giảm bớt áp lực tài chính trong khâu bồi thường, giải phóng mặt bằng; tạo sinh kế bền vững cho người dân địa phương thông qua việc cùng tham gia vận hành hoặc chia sẻ lợi nhuận, đồng thời hạn chế các vụ việc khiếu nại, khiếu kiện phức tạp liên quan đến thu hồi đất.
  2. Những hạn chế và bất cập trong thực tiễn:

    • Số lượng giao dịch góp vốn bằng QSDĐ vào dự án du lịch còn rất hạn chế so với tiềm năng quỹ đất;
    • Thiếu các tiêu chí và quy chuẩn rõ ràng trong việc định giá QSDĐ phi thị trường hoặc đất nông nghiệp kết hợp làm du lịch, dễ dẫn đến tranh chấp về tỷ lệ phân chia lợi nhuận;
    • Vướng mắc trong việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với các phân khu phụ trợ trong dự án du lịch sinh thái;
    • Xung đột giữa Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Luật Đất đai về tư cách pháp lý của QSDĐ sau khi góp vốn, đặc biệt là cơ chế xử lý và bảo vệ quyền lợi của hộ gia đình, cá nhân khi doanh nghiệp nhận góp vốn bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản.
  3. Kiến nghị và giải pháp:

    • Về hoàn thiện pháp luật:
      • Thống nhất các khái niệm giữa Luật Đất đai năm 2024, Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Luật Đầu tư năm 2020 về "góp vốn bằng QSDĐ" và "góp vốn bằng giá trị QSDĐ";
      • Ban hành nghị định hướng dẫn chi tiết về cơ chế góp vốn bằng QSDĐ theo hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) không làm chuyển dịch quyền sử dụng đất trong lĩnh vực du lịch sinh thái, nông nghiệp kết hợp;
      • Hoàn thiện quy định về định giá QSDĐ góp vốn và cơ chế ưu tiên hoàn trả lại QSDĐ cho cá nhân, hộ gia đình khi dự án chấm dứt trước hạn hoặc khi doanh nghiệp phá sản.
    • Về nâng cao hiệu quả thực thi tại tỉnh Lâm Đồng:
      • Hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất cấp huyện gắn liền với quy hoạch phát triển du lịch, công khai minh bạch danh mục dự án đầu tư giai đoạn 2021 - 2025;
      • Đơn giản hóa quy trình, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính về đăng ký biến động đất đai tại Văn phòng Đăng ký đất đai;
      • Tăng cường tuyên truyền pháp luật, trợ giúp pháp lý và xây dựng các mẫu hợp đồng hợp tác kinh doanh chuẩn để bảo vệ quyền lợi của bên góp vốn là hộ gia đình, cá nhân.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa toàn diện khung pháp lý: Đề án đã phân tích sâu sắc các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ góp vốn bằng QSDĐ để thực hiện dự án du lịch, kết nối đồng bộ các chế định từ Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Đất đai năm 2013/2024, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đến Luật Đầu tư năm 2020.
  • Làm rõ bản chất của phương thức góp vốn không chuyển quyền: Phân tích điểm mới nổi bật tại khoản 26 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024 về hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng QSDĐ, chứng minh tính phù hợp của mô hình hợp đồng BCC trong các dự án du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng nông nghiệp mà không bắt buộc phải chuyển mục đích sử dụng toàn bộ khu đất sang đất thương mại, dịch vụ.
  • Tổng kết thực tiễn địa phương: Đánh giá xác đáng thực trạng áp dụng pháp luật tại tỉnh Lâm Đồng sau đại dịch COVID-19, nhận diện rõ những rào cản khiến hoạt động góp vốn bằng QSDĐ chưa phát triển tương xứng với tiềm năng du lịch của tỉnh.
  • Đề xuất giải pháp mang tính khả thi: Đưa ra hệ thống kiến nghị đồng bộ từ cấp độ lập pháp (sửa đổi, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật) đến cấp độ tổ chức thực hiện tại địa phương (cải cách thủ tục hành chính, minh bạch quy hoạch và hỗ trợ pháp lý cho người dân).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Tại thời điểm đề án hoàn thành (năm 2024), Luật Đất đai năm 2024 mới được thông qua và chưa có hiệu lực thi hành chính thức (ngày 01/8/2024), do đó việc đánh giá tác động của các quy định mới chủ yếu dừng lại ở góc độ lý thuyết và đối chiếu văn bản, chưa có số liệu thực tế về các vụ việc phát sinh dưới thời điểm áp dụng luật mới. Đồng thời, phạm vi dữ liệu khảo sát thực tiễn tập trung chủ yếu tại địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Khảo sát và đánh giá thực tiễn thi hành Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản hướng dẫn sau khi đi vào cuộc sống đối với các dự án du lịch cụ thể;
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh thực tiễn góp vốn bằng QSDĐ tại nhiều tỉnh, thành phố có thế mạnh du lịch khác (như Phú Yên, Bình Dương, Kiên Giang, Quảng Ninh) để đúc kết mô hình quản lý tối ưu.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu và đào tạo: Là tài liệu chuyên khảo hữu ích cho giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Đất đai, Quản lý đất đai và Kinh doanh bất động sản trong việc nghiên cứu các giao dịch tài sản đặc thù.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ công tác xây dựng chính sách đất đai, quy hoạch du lịch tại các cơ quan chuyên môn như Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng và các địa phương tương đồng.
  • Đối với doanh nghiệp và người sử dụng đất: Giúp các nhà đầu tư và hộ gia đình, cá nhân nắm vững điều kiện, trình tự pháp lý và các điều khoản trọng yếu khi giao kết hợp đồng hợp tác kinh doanh bằng QSDĐ, từ đó hạn chế tối đa rủi ro và tranh chấp kinh tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Điểm khác biệt cơ bản giữa góp vốn bằng QSDĐ theo Hợp đồng BCC và góp vốn thành lập doanh nghiệp là gì?

Trong Hợp đồng BCC (hợp đồng hợp tác kinh doanh), quyền sử dụng đất không bị chuyển dịch chủ thể; người sử dụng đất vẫn đứng tên trên Giấy chứng nhận và giữ nguyên quyền sử dụng đất của mình sau khi hết thời hạn hợp tác. Ngược lại, khi góp vốn thành lập doanh nghiệp, người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất sang cho pháp nhân doanh nghiệp và QSDĐ trở thành tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp đó.

2. Tại sao đất tham gia dự án du lịch theo hình thức hợp tác kinh doanh không nhất thiết phải chuyển toàn bộ mục đích sang đất thương mại, dịch vụ?

Đối với các dự án du lịch sinh thái, tham quan cảnh quan nông nghiệp hay rừng sinh thái, người dân và doanh nghiệp có thể hợp tác kinh doanh dựa trên hiện trạng đất (đất nông nghiệp, đất trồng cây, đất rừng sản xuất). Người dân vừa có thể canh tác, vừa khai thác phục vụ du lịch mà không làm thay đổi bản chất mục đích sử dụng đất gốc, giúp bảo tồn sinh thái và cảnh quan thiên nhiên.

3. Điều kiện để tổ chức kinh tế nhận góp vốn bằng QSDĐ nông nghiệp để thực hiện dự án du lịch là gì?

Dự án phải nằm trong quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện đã được phê duyệt. Đồng thời, tổ chức kinh tế phải có văn bản đề nghị gửi Sở Tài nguyên và Môi trường để thẩm định và phải được UBND cấp tỉnh ban hành văn bản chấp thuận (văn bản chấp thuận này có thời hạn thực hiện là 36 tháng kể từ ngày ký).

4. Thời hạn tối đa của hợp đồng góp vốn bằng QSDĐ để thực hiện dự án du lịch được quy định ra sao?

Thời hạn góp vốn do các bên tự thỏa thuận nhưng không được dài hơn thời hạn sử dụng đất còn lại của thửa đất hoặc thời hạn giao đất/cho thuê đất của dự án đầu tư (thông thường không quá 50 năm; đối với dự án có vốn đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm hoặc tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn thì tối đa không quá 70 năm).

5. Những yếu tố nào giữ vai trò chi phối đối với pháp luật về góp vốn bằng QSDĐ tại Việt Nam?

Ba yếu tố cốt lõi bao gồm: (1) Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước đại diện chủ sở hữu; (2) Chủ trương, đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và chính sách phát triển thị trường bất động sản của Đảng và Nhà nước; (3) Tính chất đặc thù của quyền sử dụng đất gắn liền với các hình thức Nhà nước trao quyền (giao đất có thu tiền/không thu tiền, cho thuê đất thu tiền một lần/hàng năm).


Kết luận

Đề án tốt nghiệp của tác giả Lương Thị Xuân Thư đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và các quy định pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án du lịch, chỉ rõ sự khác biệt giữa hình thức hợp tác kinh doanh không chuyển quyền sử dụng đất và hình thức góp vốn chuyển quyền vào doanh nghiệp. Trên cơ sở phân tích thực tiễn tại tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn sau đại dịch COVID-19, nghiên cứu đã nhận diện đầy đủ các khó khăn, vướng mắc trong khâu định giá đất, chuyển đổi mục đích sử dụng và xử lý tài sản khi chấm dứt hoạt động dự án. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp thực thi được đề xuất có tính thực tiễn cao, đóng góp thiết thực vào việc nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai cho ngành du lịch địa phương.