Pháp luật việt nam về góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án du lịch thực tiễn tại tỉnh lâm đồng

Tìm hiểu pháp luật Việt Nam về góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án du lịch tại tỉnh Lâm Đồng. Nghiên cứu thực tiễn và phân tích chuyên sâu.

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề án tốt nghiệp

2024

86
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT ĐỀ ÁN

ABSTRACT

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

1.3.1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.3.1.1. Mục tiêu chung
1.3.1.2. Mục tiêu cụ thể

1.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

1.4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu

1.5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể

1.5.1. Phương pháp luận nghiên cứu

1.5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể

1.6. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài

1.7. Kết cấu của đề án

2. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY VỀ GÓP VỐN BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỂ THỰC HIỆN DỰ ÁN DU LỊCH

2.1. Khái quát về việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án du lịch

2.1.1. Khái niệm về góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án du lịch

2.1.2. Đặc điểm của pháp luật Việt Nam về góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án du lịch

2.1.3. Phân biệt giữa góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện Dự án du lịch so với Dự án có sử dụng đất đai thông thường

2.2. Nội dung của pháp luật Việt Nam về góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án du lịch

2.2.1. Hình thức góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án du lịch

2.2.2. Chủ thể góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án du lịch

2.2.3. Điều kiện quyền sử dụng đất góp vốn để thực hiện dự án du lịch

2.2.4. Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án du lịch

2.2.5. Trình tự và thủ tục góp vốn bằng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân để thực hiện dự án du lịch

2.2.6. Xử lý quyền sử dụng đất khi chấm dứt góp vốn để thực hiện dự án du lịch

2.2.7. Các yếu tố tác động đến pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án du lịch

2.3. Kết luận Chương 1

3. THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỈNH LÂM ĐỒNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GÓP VỐN BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NHẰM THỰC HIỆN DỰ ÁN DU LỊCH

3.1. Thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam về góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án du lịch tại tỉnh Lâm Đồng

3.2. Việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất bằng hình thức hợp tác kinh doanh để thực hiện dự án du lịch

3.3. Góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp đã thành lập để thực hiện dự án du lịch

3.4. Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam về góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án du lịch tại tỉnh Lâm Đồng

3.4.1. Ưu điểm về góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án du lịch tại tỉnh Lâm Đồng

3.4.2. Một số bất cập trong thực hiện đầu tư dự án du lịch tại tỉnh Lâm Đồng

3.5. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam và nâng cao hiệu quả về góp vốn bằng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân nhằm thực hiện dự án du lịch tại tỉnh Lâm Đồng

3.5.1. Về hoàn thiện pháp luật Việt Nam để góp vốn bằng quyền sử dụng đất nhằm thực hiện dự án du lịch

3.5.2. Về nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật góp vốn bằng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân để thực hiện dự án du lịch tại tỉnh Lâm Đồng

3.6. Kết luận Chương 2

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Góp Vốn Quyền Sử Dụng Đất QSDĐ Cho Dự Án 55

Đất đai là tài nguyên quốc gia, quyền sử dụng đất được xem là loại hàng hóa đặc biệt, nguồn lực và vốn lớn. Đất đai tại Việt Nam thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước đại diện quản lý. Nhà nước phân quyền sử dụng thông qua giao đất, cho thuê đất và công nhận QSDĐ cho các chủ thể. Mặc dù người sử dụng không sở hữu đất, họ có quyền sử dụng có giá trị bằng tiền và có thể chuyển nhượng. Quyền này ngày càng mở rộng, bao gồm góp vốn bằng QSDĐ để hợp tác sản xuất kinh doanh. Việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất nhằm khai thác hiệu quả, thu hút đầu tư, làm tiền đề phát triển nông nghiệp, du lịch, bất động sản. Ngoài ra, góp vốn vào Hợp tác xã góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Góp vốn bằng QSDĐ vào các dự án đầu tư hạn chế xung đột quyền lợi, nâng cao thu nhập của người sử dụng, tối ưu hóa lợi ích, gián tiếp tạo nguồn thu ngân sách.

1.1. Khái Niệm Góp Vốn Bằng Quyền Sử Dụng Đất Bản Chất

Góp vốn bằng quyền sử dụng đất là việc cá nhân, tổ chức sử dụng quyền sử dụng đất của mình để đóng góp vào vốn của một doanh nghiệp hoặc dự án. Quyền sử dụng đất được định giá và quy đổi thành phần vốn góp. Theo Luật Đất đai năm 2024, góp vốn bằng quyền sử dụng đất được hiểu là một hình thức chuyển giao quyền sử dụng đất cho tổ chức, cá nhân khác để thực hiện dự án đầu tư. Bản chất của việc này là sự hợp tác giữa người có đất và người có vốn, nhằm khai thác tối đa tiềm năng của đất đai và tạo ra lợi nhuận. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, việc góp vốn bằng QSDĐ không đồng nghĩa với việc chuyển quyền sở hữu đất đai, mà chỉ chuyển quyền sử dụng trong một thời hạn nhất định.

1.2. Lợi Ích Góp Vốn Quyền Sử Dụng Đất Cho Dự Án Du Lịch

Việc góp vốn bằng QSDĐ mang lại nhiều lợi ích cho cả người sử dụng đất và chủ đầu tư. Đối với người sử dụng đất, đây là cơ hội để tăng thu nhập từ đất đai, tham gia vào quá trình phát triển dự án và hưởng lợi từ thành quả. Đồng thời, cũng góp phần giải quyết tình trạng đất đai bỏ hoang, sử dụng kém hiệu quả. Đối với chủ đầu tư, việc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất giúp giảm chi phí đầu tư ban đầu, tiếp cận được nguồn quỹ đất dồi dào và đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai dự án. Từ đó, có thể nhận thấy lợi ích khi góp vốn sẽ giúp cho dự án du lịch Lâm Đồng thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương, tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống người dân.

II. Pháp Luật Về Góp Vốn Bằng Quyền Sử Dụng Đất Hiện Nay 57

Từ năm 1977, Góp vốn bằng QSDĐ đã được ghi nhận trong Điều lệ đầu tư nước ngoài. Quyền này cũng được ghi nhận tại Bộ luật dân sự năm 2015, Luật doanh nghiệp năm 2020, Luật đất đai năm 2013, Luật đầu tư năm 2020, Luật Hợp tác xã năm 2012. Tuy nhiên, quyền năng này chưa được khai thác hiệu quả. Nhiều doanh nghiệp trong nước chọn cách GVBQSDĐ khi các NĐT nước ngoài vào Việt Nam. Các DADL chủ yếu diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Vụ chuyển nhượng vốn góp bằng QSDĐ của Fortuna Hotel cho thấy nhiều bất cập pháp lý và kinh tế cần giải quyết. Đặc biệt, GVBQSDĐ để thực hiện DADL còn có bất cập, chồng chéo giữa các quy định của Luật.

2.1. Điều Kiện QSDĐ Được Góp Vốn Theo Quy Định Pháp Luật

Theo quy định của pháp luật, không phải tất cả các QSDĐ đều có thể được sử dụng để góp vốn. Điều kiện quyền sử dụng đất được góp vốn bao gồm: Đất phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Đất không có tranh chấp; Quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án; Đất còn thời hạn sử dụng; Và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất. Ngoài ra, Luật Đất đai cũng quy định cụ thể về các loại đất được phép góp vốn bằng quyền sử dụng đất, bao gồm đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất ở, cần kiểm tra và tuân thủ theo quy định.

2.2. Thủ Tục Góp Vốn Bằng Quyền Sử Dụng Đất Chi Tiết

Thủ tục góp vốn bằng quyền sử dụng đất bao gồm các bước sau: Các bên thỏa thuận về việc góp vốn, giá trị quyền sử dụng đất được góp, thời hạn góp vốn và các điều khoản khác. Lập hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất, phải được công chứng hoặc chứng thực. Nộp hồ sơ đăng ký biến động đất đai tại cơ quan có thẩm quyền. Cơ quan có thẩm quyền sẽ kiểm tra hồ sơ, xác minh thực địa và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bên nhận góp vốn (trong trường hợp góp vốn thành lập pháp nhân mới). Cần lưu ý rằng, thủ tục này có thể thay đổi tùy theo quy định của từng địa phương, cần tìm hiểu kỹ.

III. Cách Định Giá Quyền Sử Dụng Đất QSDĐ Khi Góp Vốn 59

Mặc dù LĐĐ đã được sửa đổi, QSDĐ vẫn chưa là hàng hóa tự do lưu thông. Vẫn còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu như sự không thống nhất giữa khái niệm góp vốn bằng QSDĐ trong Luật đất đai năm 2024 với khái niệm góp vốn bằng giá trị QSDĐ trong Luật doanh nghiệp năm 2020. Nghị quyết số 11- NQ/TW ngày 03/6/2017 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, có nội dung: Hoàn thiện pháp luật về đất đai, tài nguyên để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên, .Tạo thuận lợi cho việc chuyển nhượng hoặc cho thuê QSDĐ, góp vốn bằng giá trị QSDĐ.

3.1. Các Phương Pháp Định Giá Quyền Sử Dụng Đất Hiện Hành

Việc định giá quyền sử dụng đất là một bước quan trọng trong quá trình góp vốn, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các bên. Có nhiều phương pháp định giá khác nhau, bao gồm: Phương pháp so sánh trực tiếp, phương pháp chiết trừ, phương pháp thu nhập và phương pháp thặng dư. Tùy thuộc vào đặc điểm của từng thửa đất, mục đích sử dụng đất và thông tin thị trường, các bên sẽ lựa chọn phương pháp định giá phù hợp. Trong quá trình định giá, cần tham khảo ý kiến của các chuyên gia thẩm định giá để đảm bảo tính khách quan và chính xác.

3.2. Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Trị Quyền Sử Dụng Đất

Giá trị quyền sử dụng đất chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm: Vị trí địa lý, diện tích, hình dạng, mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất, tình trạng pháp lý của đất, quy hoạch sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Bên cạnh đó, yếu tố thị trường, như cung cầu đất đai, tình hình kinh tế - xã hội và chính sách của Nhà nước cũng có tác động không nhỏ đến giá trị quyền sử dụng đất. Cần phân tích kỹ lưỡng các yếu tố này để định giá quyền sử dụng đất một cách chính xác và hợp lý.

IV. Rủi Ro Pháp Lý Khi Góp Vốn Bằng Quyền Sử Dụng Đất 58

Từ khi có doanh nghiệp được thành lập từ việc GVBQSDĐ đến nay, vẫn chưa xây dựng được phương án xử lý phù hợp cho việc giải thể hoặc phá sản. Nhiều BĐS rộng lớn, có vị trí đắc địa bị bỏ ngỏ, trong khi nhu cầu sử dụng BĐS phục vụ sinh hoạt và tạo ra thặng dư trong kinh doanh tăng. Từ kết quả thực tế hoạt động góp vốn bằng QSDĐ vào doanh nghiệp, vào hợp tác xã, vào các dự án trên cả nước cũng như tỉnh Lâm Đồng nói riêng diễn ra không nhiều, chiếm tỉ lệ khiêm tốn so với hoạt động thuê đất, chuyển nhượng QSDĐ.

4.1. Tranh Chấp Quyền Sử Dụng Đất Giải Pháp Phòng Ngừa

Một trong những rủi ro lớn nhất khi góp vốn bằng quyền sử dụng đất là tranh chấp quyền sử dụng đất. Tranh chấp có thể phát sinh giữa các thành viên trong gia đình, giữa các chủ sử dụng đất liền kề hoặc giữa chủ sử dụng đất và chính quyền địa phương. Để phòng ngừa rủi ro này, cần kiểm tra kỹ lưỡng hồ sơ pháp lý của đất, đảm bảo đất không có tranh chấp, không bị kê biên và có đầy đủ giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất. Đồng thời, nên tham khảo ý kiến của luật sư để được tư vấn về các vấn đề pháp lý liên quan.

4.2. Thay Đổi Quy Hoạch Ảnh Hưởng Đến Dự Án Du Lịch

Việc thay đổi quy hoạch sử dụng đất cũng có thể gây ra rủi ro cho các dự án đầu tư được thực hiện bằng hình thức góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Nếu quy hoạch thay đổi, mục đích sử dụng đất không còn phù hợp với dự án, dự án có thể bị đình chỉ hoặc phải điều chỉnh lại. Để giảm thiểu rủi ro này, cần tìm hiểu kỹ về quy hoạch sử dụng đất của địa phương, tham khảo ý kiến của các cơ quan chức năng và có phương án dự phòng cho trường hợp quy hoạch thay đổi.

V. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Góp Vốn QSDĐ Tại Lâm Đồng 60

Doanh nghiệp không lựa chọn hình thức nhận góp vốn của người dân mà chọn hình thức nhận chuyển nhượng QSDĐ hoặc bằng hình thức giao đất. Tình hình khiếu nại liên quan đến việc thu hồi đất của người dân trong cả nước và tỉnh Lâm Đồng nói riêng vẫn còn gay gắt, phức tạp. Trong khi đó, với lợi thế sở hữu tiềm năng khai thác du lịch lớn, các dự án du lịch tại đây còn rất nhiều dư địa để đầu tư và phát triển, vì vậy, vấn đề tận dụng lợi thế từ quyền sử dụng đất của người dân địa phương để khai thác dự án du lịch cần được quan tâm và làm rõ.

5.1. Hoàn Thiện Khung Pháp Lý Về Góp Vốn Quyền Sử Dụng Đất

Để nâng cao hiệu quả góp vốn bằng quyền sử dụng đất, cần hoàn thiện khung pháp lý về vấn đề này. Cụ thể, cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về đất đai, đầu tư, doanh nghiệp và các lĩnh vực liên quan, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất và minh bạch. Cần quy định rõ về điều kiện, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia góp vốn, cũng như cơ chế giải quyết tranh chấp. Đồng thời, cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức của người dân và doanh nghiệp về góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

5.2. Đẩy Mạnh Hỗ Trợ Doanh Nghiệp Tại Lâm Đồng

Chính quyền địa phương cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư bằng hình thức góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Cụ thể, cần tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận thông tin về quy hoạch sử dụng đất, thủ tục hành chính và các chính sách ưu đãi. Cần hỗ trợ doanh nghiệp trong việc giải quyết các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai dự án. Đồng thời, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để đảm bảo doanh nghiệp tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

VI. Kết Luận Về Góp Vốn Quyền Sử Dụng Đất Cho Dự Án Du Lịch 52

Nhận thức được vai trò quan trọng của góp vốn bằng QSDĐ để thực hiện dự án du lịch tại địa phương, cũng như xuất phát từ những thực tế nêu trên, tác giả chọn nghiên cứu về đề tài “Pháp luật Việt Nam về góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án du lịch - Thực tiễn tại tỉnh Lâm Đồng”. Thông qua ý nghĩa của việc tìm hiểu những quy định của Pháp luật về góp vốn bằng QSDĐ, cũng như thực tiễn áp dụng các quy định này tại tỉnh Lâm Đồng để thực hiện dự án du lịch, với hy vọng đóng góp một phần nhỏ công sức vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về góp vốn bằng QSDĐ và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về góp vốn bằng QSDĐ để thực hiện dự án du lịch tại Việt Nam nói chung và tại tỉnh Lâm Đồng nói riêng.

6.1. Tóm Tắt Ưu Điểm Và Nhược Điểm Của Hình Thức Này

Hình thức góp vốn bằng quyền sử dụng đất mang lại nhiều ưu điểm như huy động vốn, khai thác tiềm năng đất đai, tạo sự gắn kết giữa người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, cũng tồn tại một số nhược điểm như rủi ro pháp lý, tranh chấp quyền sử dụng đất, thay đổi quy hoạch. Để phát huy tối đa ưu điểm và hạn chế nhược điểm, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan, cũng như sự hỗ trợ của chính quyền địa phương. Điều này giúp các dự án du lịch Lâm Đồng được triển khai, góp phần vào sự phát triển kinh tế của tỉnh.

6.2. Triển Vọng Phát Triển Góp Vốn QSDĐ Trong Tương Lai

Trong bối cảnh thị trường bất động sản ngày càng phát triển và hội nhập quốc tế, hình thức góp vốn bằng quyền sử dụng đất có nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai. Với việc hoàn thiện khung pháp lý, chính sách hỗ trợ của Nhà nước và sự chủ động của doanh nghiệp, hình thức này có thể trở thành một kênh huy động vốn hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Cần có sự nghiên cứu, đánh giá và định hướng phát triển phù hợp để khai thác tối đa tiềm năng của hình thức góp vốn này, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch.

01/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Quy định pháp luật Việt Nam hiện nay về góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án du lịch. Chương 2: Thực tiễn thực hiện tại tỉnh Lâm Đồng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về góp vốn bằng quyền sử dụng đất nhằm thực hiện dự án du lịch. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY VỀ GÓP VỐN BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỂ THỰC HIỆN DỰ ÁN DU LỊCH 1.1 Khái quát về góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án du lịch 1.1 Đặc điểm về dự án du lịch Dự án du lịch, giống như các dự án khác, cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật để đảm bảo tính hợp pháp và bền vững. Theo khoản 1 Điều 3 Luật Du lịch năm 2017: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”.

Thông qua du lịch, con người được phát triển tốt về thể chất và tinh thần, được tái tạo sức lao động, được nạp thêm nguồn năng lượng để giúp cho cuộc sống có chất lượng hơn. Điều đó cũng lý giải vì sao kinh doanh du lịch đã và đang trở thành những mục tiêu phát triển kinh tế mũi nhọn của các quốc gia phát triển nhằm thu hút đầu tư vào lĩnh vực này. Như trên đã đề cập, nhu cầu về du lịch ngày càng trở nên thiết yếu và không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người. Một trong những chiến lược đầu tư nhằm phúc đáp các nhu cầu về du lịch ngày càng tăng là phát triển thị trường Dự án du lịch.

Chiến lược này không chỉ dừng lại ở mục tiêu lợi nhuận cho các nhà đầu tư mà sứ mệnh cao hơn của các nhà đầu tư BĐS là khám phá những vùng đất mới, những miền đất hứa, khơi dậy những khả năng và thế mạnh của mỗi vùng miền, lan tỏa những giá trị lịch sử, văn hóa, tinh thần của dân tộc và quan trọng hơn là đánh thức tiềm năng đất đai - một tài sản có giới hạn về diện tích nhưng vô hạn về thời gian sử dụng và khả năng sinh lời. Dự án du lịch là một thuật ngữ mới xuất hiện ở nước ta trong thời gian gần đây với sự ra đời của một số sản phẩm BĐS phục vụ trực tiếp cho hoạt động du lịch, đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi và khám phá của khách du lịch như “resort, condotel, shoptel, villa, homestay, farmstay,. Sự phát triển mạnh mẽ của phân khúc thị trường Dự án du lịch trong thời gian qua ở một số các tỉnh, thành có lợi thế về kinh tế biển, có tiềm năng du 9 lịch lớn về văn hóa, lịch sử. cho thấy sự phong phú và đa dạng của các loại Dự án du lịch.

Sự đa dạng của các sản phẩm Dự án du lịch cho thấy sự cần thiết phải định danh chúng một cách rõ ràng, nhận diện một cách cụ thể những đặc trưng cơ bản của Dự án du lịch làm cơ sở cho sự vận hành của Dự án du lịch trên thị trường. Từ bản chất và đặc tính của BĐS là tính không thể di dời và những tài sản được tạo ra và tồn tại trên đất, gắn liền với đất đều trở thành BĐS đã được ghi nhận tại Bộ luật Dân sự năm 2015. Với bản chất này của BĐS thì tùy vào mục đích của việc sử dụng BĐS là đất đai và các tài sản được tạo lập trên đất đai đó cho mục đích nào thì chúng được định danh và phân loại thành các BĐS cụ thể. Chẳng hạn, đất đai được xác định cho mục đích để ở, kéo theo nhà ở và các CTXD được xây dựng trên đất phục vụ cho mục đích ở và sinh hoạt của con người thì được định danh là BĐS để ở; CTXD xây dựng trên đất nhằm phục vụ công nghiệp gọi là BĐS công nghiệp; đất đai được xác định cho mục đích nông nghiệp và tài sản được tạo lập trên đất nông nghiệp thì được gọi là BĐS nông nghiệp.

Tương tự, các công trình được tạo lập trên nền tảng đất đai nhằm để phục vụ cho mục đích du lịch, nghỉ dưỡng và các mục đích kết hợp 2 khác để phúc đáp các nhu cầu của khách du lịch sẽ được định danh là Dự án du lịch. Ngoài các đặc điểm của một dự án đầu tư thông thường, dự án du lịch có một số đặc điểm riêng biệt sau: Một là, về mục đích sử dụng, mục đích chính của dự án du lịch là phục vụ du lịch, nghỉ dưỡng và các nhu cầu giải trí khác của du khách. Dự án du lịch được tạo lập để sử dụng trước tiên và cơ bản là phục vụ cho mục đích nghỉ dưỡng, du lịch. Các mục đích sử dụng khác ngoài nghỉ dưỡng, du lịch chỉ là yếu tố kết hợp mang tính linh hoạt trong thời gian du lịch, nghỉ dưỡng.

Ví dụ, khách du lịch có thể kết hợp sử dụng các BĐS trong dự án du lịch vừa cho mục đích nghỉ dưỡng, vừa là nơi giải trí, khám phá các văn hóa đa sắc màu. Chính vì đặc điểm này mà địa điểm đầu tư dự án du lịch phải là những nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp, giàu truyền thống lịch sử, có bản sắc văn hoá đặc sắc và với đầy đủ tính năng và tiện ích nhằm phục vụ cho nhu cầu đa dạng của con người. Điều này cũng lý giải vì sao các sản phẩm dự án du lịch nghỉ dưỡng trong thời gian gần 2 Đoàn Văn Bình (2022), “Pháp luật về kinh doanh bất động sản du lịch ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr.39-40 10 đây được ra đời và phát triển theo xu hướng đa dạng, cộng hưởng bởi nhiều tính năng sử dụng và với xu hướng ngày càng văn minh, hiện đại. Hai là, về thời gian hoàn vốn dự án, dự án du lịch có thời gian hoàn vốn dự án dài (10 - 15 năm).

Theo đó, so với các dự án nhà ở, dự án du lịch có thời gian thu hồi vốn dài hơn. Nếu như nhà ở, trung bình sau khi đầu tư kinh doanh trong khoảng 2 - 3 năm, bán hết sản phẩm là Chủ đầu tư có thể thu hồi vốn thì các sản phẩm BĐS thuộc dự án du lịch có thời gian thu hồi vốn dài hơn do đặc thù của hoạt động kinh doanh lưu trú mang tính ngắn hạn. Đặc điểm này cần được tính đến khi xây dựng các chính sách đối với dự án du lịch, đặc biệt là chính sách ưu đãi về tài chính, tín dụng. Ba là, về thị trường, dự án du lịch không chỉ đáp ứng nhu cầu của khách hàng nội địa mà còn hướng tới phục vụ khách hàng quốc tế.

Đặc điểm này xuất phát từ chính nhu cầu của du lịch là để con người được tận hưởng, giao lưu, được kết nối và khám phá các vùng đất, các miền đất mới. Theo đó, sẽ không giới hạn bởi không gian, thời gian, bởi khu vực hay quốc gia. Vì vậy, thị trường dự án du lịch phát triển cũng hướng tới mục đích đáp ứng và thỏa mãn cho thị hiếu và nhu cầu đa dạng của du khách mà không có bất kỳ giới hạn nào. Nhu cầu của du khách trong nước và quốc tế ngày càng đa dạng và có xu hướng tận hưởng những giá trị du lịch ngày càng tinh hơn, văn minh và hiện đại hơn, phong phú và đa dạng hơn thì càng kích thích sự phát triển nhanh, mạnh và hiện đại của thị trường dự án du lịch hơn.

Điều đó cũng lý giải vì sao, thị trường dự án du lịch trong thời gian gần đây ở Việt Nam chú trọng tới các phân khúc thị trường BĐS thân thiện với môi trường, đặc biệt chú trọng tới việc tạo ra những sản phẩm BĐS trong dự án du lịch tích hợp và cộng hưởng nhiều tính năng và mục đích du lịch khác nhau như: nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, kết hợp với du lịch khám phá, mạo hiểm. Xu hướng về các sản phẩm BĐS du lịch với tư cách là “ngôi nhà thứ hai” phục vụ nghỉ dưỡng và đầu tư ngày càng gia tăng. Bốn là, về vận hành, CĐT chịu trách nhiệm vận hành các dự án du lịch suốt cả vòng đời dự án (thường là 50 - 70 năm). Đây là sự khác biệt giữa dự án du lịch và các loại hình dự án khác như nhà ở.

Theo đó, đối với nhà ở riêng lẻ, khách hàng nhận bàn giao và chủ động sử dụng; đối với nhà chung cư, Ban quản trị chịu trách nhiệm tổ chức vận hành toà nhà; phần còn lại trong khu đô thị bao gồm cả hạ tầng kỹ thuật sẽ được CĐT bàn giao cho cơ quan nhà nước ở địa phương quản lý. Đặc điểm này đòi hỏi CĐT 11 dự án du lịch có chiến lược, kế hoạch lâu dài, không chỉ liên quan tới đầu tư xây dựng mà cả vận hành, kinh doanh trong thời gian dài, suốt vòng đời dự án. Năm là, về xu hướng phát triển, dự án du lịch là phân khúc thị trường ra đời chậm hơn các phân khúc sản phẩm dự án khác nhưng sẽ phát triển nhanh chóng trong tương lai gần cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và đặc biệt là sự tăng trưởng của ngành du lịch trong thời gian tới. Về loại hình sản phẩm sẽ có sự phát triển đa dạng hơn.

Theo đó, thay vì những sản phẩm dự án du lịch truyền thống, thuần túy cho mục đích lưu trú (nghỉ ngơi và ăn uống) trước đây, các nhà đầu tư trong thời gian gần đây có xu hướng tạo lập những dự án đa dạng hơn, tích hợp nhiều tính năng và mục đích hơn để phục vụ du khách. Cùng với đó, các nhà đầu tư kinh doanh dự án du lịch có uy tín trên thương trường còn chú trọng tới việc tạo lập các dự án hiện đại, chất lượng để phúc đáp nhu cầu du lịch cho giới thượng lưu, song cũng nhằm quảng bá thương hiệu, hình ảnh của vùng, miền và cao hơn là của quốc gia đến du khách quốc tế. Điều này cũng lý giải vì sao các dự án du lịch lớn thường được các CĐT tìm kiếm và ký kết hợp đồng quản lý với các thương hiệu khách sạn nổi tiếng trên thế giới để đảm bảo dự án đầu tư theo tiêu chuẩn quốc tế, quảng bá hình ảnh và khai thác hệ thống đặt phòng toàn cầu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ