CHƢƠNG 3 THANH TOÁN QUỐC TẾ Mã chƣơng: CKT441-03 Giới thiệu: Giúp ngƣời học nắm đƣợc ngoại hối, tỷ giá hối đoái, cũng nhƣ các nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Nắm đƣợc các phƣơng thức thanh toán trong giao thƣơng quốc tế. Mục tiêu: - Kiến thức: + Trình bày về ngoại hối, tỷ giá hối đoái + Giải thích các loại tiền đƣợc sử dụng trong thanh toán và tín dụng quốc tế + Mô tả đƣợc các phƣơng tiện thanh toán quốc tế, các phƣơng thức thanh toán quốc tế - K năng: + Vận dụng nguyên tắc tính chéo để xác định tỷ giá hối đoái + Phân biệt sự khác nhau về các phƣơng tiện thanh toán quốc tế và các phƣơng thức thanh toán quốc tế + Vẻ sơ đồ về các phƣơng tiện thanh toán quốc tế và các phƣơng thức thanh toán quốc tế 1. Khái niệm ngoại hối Trong pháp lệnh Ngoại hối (06/2013/UBTVQH13): Ngoại hối bao gồm: a) Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác đƣợc sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ); b) Phƣơng tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phƣơng tiện thanh toán khác; c) Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác; d) Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nƣớc, trên tài khoản ở nƣớc ngoài của ngƣời cƣ trú; vàng dƣới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trƣờng hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam; 37 đ) Đồng tiền của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trƣờng hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đƣợc sử dụng trong thanh toán quốc tế.
Thị trƣờng ngoại hối 1. Khái niệm Thị trƣờng ngoại hối là thị trƣờng ở đó các đồng tiền của các quốc gia đƣợc mua và bán với nhau. Đối tƣợng mua bán chủ yếu là các khoản tiền gửi ngân hàng đƣợc ghi bằng các đồng tiền khác nhau. Sự cần thiết khách quan của thị trƣờng ngoại hối Các hoạt động thƣơng mại và đầu tƣ quốc tế yêu cầu phải có một thị trƣờng cho phép thực hiện việc chuyển đổi giữa các đồng tiền của các quốc gia khác nhau.
Thị trƣờng ngoại hối có nguồn gốc từ sự đồng thời tồn tại giữa tính quốc tế của hoạt động thƣơng mại, đầu tƣ và tính dân tộc của các đồng tiền. Chức năng của thị trƣờng ngoại hối - Thực hiện việc chuyển đổi sức mua giữa các đồng tiền khác nhau. - Là nơi xác định tỷ giá, một biến số kinh tế vĩ mô quan trọng của nền kinh tế. - Cung cấp các công cụ bảo hiểm rủi ro ngoại hối.
Các chủ thể tham gia thị trƣờng ngoại hối Căn cứ vào mục đích tham gia thị trường: - Các nhà kinh doanh (dealer): Là những ngƣời tham gia mua bán thƣờng xuyên trên thị trƣờng nhằm kiếm lời từ chênh lệch giữa giá bán ra và giá mua vào. Mục tiêu của nhà kinh doanh là kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giữa giá bán và giá mua. - Các nhà môi giới (brokers): Là những ngƣời tham gia trên thị trƣờng với tƣ cách là trung gian trong các giao dịch mua bán hoặc mua bán thay cho ngƣời khác nhằm thu hoa hồng trong từng giao dịch. Mục tiêu của nhà môi giời là hoa hồng thu đƣợc qua từng giao dịch.
Khác với nhà kinh doanh, nhà môi giời chỉ là trung gian chứ không có tham gia mua bán nên không phải chấp nhận rủi ro. - Các nhà đầu cơ (speculators): Là những ngƣời tham gia thị trƣờng với hy vọng kiếm lời nếu sự thay đổi tỷ giá theo đúng dự đoán đồng thời sẵn sàng chấp nhận rủi ro nếu nhƣ tỷ giá biến động trái ngƣợc với dự đoán của họ. Nhà 38 đầu cơ giống nhà kinh doanh ở chỗ có tham gia mua bán ngoại tệ và kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giá lúc mua so với lúc bán hoặc lúc bán so với lúc mua. Tuy nhiên, nhà đầu cơ khác nhà kinh doanh ở chỗ họ rủi ro hơn do thời gian giữa lúc bán và lúc mua trong trƣờng hợp đầu cơ thƣờng dài hơn trong trƣờng hợp kinh doanh.
- Các nhà kinh doanh chênh lệch giá (abitragors): Là những ngƣời tìm kiếm lợi nhuận từ các cơ hội kinh doanh thuận lợi với phƣơng châm là mua ở nơi nào, lúc nào rẻ và bán ở nơi nào, lúc nào đắt nhằm kiếm lợi nhuận phi rủi ro trong một thời gian rất ngắn. Các nhà kinh doanh chênh lệch giá là những ngƣời chuyên khai thác sự mất cân bằng tỷ giá giữa các khu vực để ra quyết định mua bán nhằm kiếm lợi nhuận phi rủi ro. Căn cứ vào hình thức tổ chức: - Các nhà thƣơng mại và đầu tƣ: Các nhà kinh doanh XNK và các nhà đầu tƣ. - Các ngân hàng thƣơng mại và các ngân hàng đầu tƣ.
- Các cá nhân và hộ gia đình: Những ngƣời có nhu cầu mua ngoại tệ khi đi công tác, du lịch, chữa bệnh. - Ngân hàng Nhà nƣớc: Ở hầu hết các nƣớc, Ngân hàng Nhà nƣớc là ngƣời đóng vai trò tổ chức và kiểm soát, điều hành và tham gia mua bán ngoại tệ nhằm ổn định sự hoạt động của thị trƣờng ngoại hối, ổn định giá cả và tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái Khái niệm tỷ giá hối đoái - Tỷ giá hối đoái là sự so sánh mối tƣơng quan giá trị giữa hai đồng tiền với nhau. - Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nƣớc này thể hiện bằng số lƣợng đơn vị tiền tệ nƣớc khác.
Ví dụ: Ngày xx/xx/xxxx, trên thị trƣờng hối đoái quốc tế ta có thông tin: 1Đô la Mỹ (USD) =114.7684 Đô la Mỹ (USD) Phƣơng pháp yết giá 1 đồng yết giá = x đồng tiền định giá 39 Có nhiều tác giả dùng các thuật ngữ khác nhau về biểu hiện tỷ giá, thậm trí trái ngƣợc nhau xung quanh hai khái niệm trực tiếp và gián tiếp. Để dễ hiểu ở đây chúng ta sử dụng hai cách biểu hiện tỷ giá sau đây: - Cách thứ nhất, yết giá trực tiếp (Direct quotation) tại một nƣớc ngƣời ta so sánh một ngoại tệ nào đó với đồng nội tệ. 1 ngoại tệ = X nội tệ Phƣơng pháp yết giá này đƣợc áp dụng ở nhiều quốc gia: Thái Lan, Hàn Quốc, Singapore, Việt Nam… - Cách thứ hai, yết giá gián tiếp (Indirect quotation) tại một nƣớc, ngƣời ta so sánh đồng nội tệ với đồng ngoại tệ. 1 nội tệ = X ngoại tệ Phƣơng pháp yết giá này áp dụng ở một số nƣớc nhƣ: Anh, Úc, Châu Âu, Mỹ… Các loại tỷ giá hối đoái Có thể có các loại tỷ giá khác nhau sử dụng trên thị trƣờng hối đoái.
Chúng ta có thể xem xét một số tỷ giá sau đây: - Căn cứ vào đối tƣợng xác định tỷ giá, có thể chia làm tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trƣờng. + Tỷ giá chính thức là tỷ giá do Ngân hàng Nhà nƣớc của nƣớc đó xác định. Trên cơ sở của tỷ giá này các ngân hàng thƣơng mại và các tổ chức tín dụng sẽ ấn định tỷ giá mua bán ngoại tệ giao ngay, có kỳ hạn, hoán đổi. + Tỷ giá thị trƣờng là tỷ giá đƣợc hình thành trên cơ sở quan hệ cung cầu trên thị trƣờng hối đoái.
- Căn cứ vào kỳ hạn thanh toán, có thể chia làm tỷ giá giao ngay và tỷ giá có kỳ hạn. + Tỷ giá giao ngay (Spot): Là tỷ giá do tổ chức tín dụng yết giá tại thời điểm giao dịch hoặc do hai bên thỏa thuận nhƣng phải đảm bảo trong biểu độ do Ngân hàng Nhà nƣớc quy định. Việc thanh toán giữa các bên phải đƣợc thực hiện trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo, sau ngày cam kết mua hoặc bán. + Tỷ giá giao dịch kỳ hạn (Forwards): Là tỷ giá giao dịch do tổ chức tín dụng tự tính toán và thỏa thuận với nhau nhƣng phải đảm bảo trong biên độ qui 40 định về tỷ giá kỳ hạn hiện hành của Ngân hàng Nhà nƣớc tại thời điểm ký hợp đồng.
- Căn cứ vào giá trị của tỷ giá, có thể chia làm tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực. + Tỷ giá hối đoái danh nghĩa: Là tỷ giá của một loại tiền tệ đƣợc biểu hiện theo giá hiện tại, không tính đến bất kỳ ảnh hƣởng nào của lạm phát. + Tỷ giá hối đoái thực: Là tỷ giá có tính đến tác động của lạm phát và sức mua trong một cặp tiền tệ phản ảnh giá cả hàng hóa tƣơng quan có thể bán ra nƣớc ngoài và hàng tiêu thụ trong nƣớc. Tỷ giá này đại diện cho khả năng cạnh tranh quốc tế của nƣớc đó.
- Căn cứ vào phƣơng thức chuyển ngoại hối, có thể chia làm tỷ giá điện hối và tỷ giá thƣ hối. + Tỷ giá điện hối: Là tỷ giá thƣờng đƣợc niêm yết tại ngân hàng. Đó là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện. Tỷ giá điện hối là tỷ giá cơ sở để xác định các loại tỷ giá khác.
+ Tỷ giá thƣ hối, tức là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thƣ. Tỷ giá điện hối thƣờng cao hơn tỷ giá thƣ hối. - Căn cứ vào thời điểm mua, bán ngoại hối, có thể phân biệt tỷ giá mua và tỷ giá bán của ngân hàng. + Tỷ giá mua: Là tỷ giá của ngân hàng mua ngoại hối vào.
Tỷ giá bán là tỷ giá của ngân hàng bán ngoại hối ra. Tỷ giá mua bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán và khoản chênh lệch đó là lợi nhuận kinh doanh ngoại hối của ngân hàng. Thông thƣờng thì ngân hàng không công bố tất cả tỷ giá của các hợp đồng đã ký kết trong một ngày mà chỉ công bố tỷ giá của hợp đồng ký kết cuối cùng trong ngày đó, ngƣời ta gọi đó là tỷ giá đóng cửa. Tỷ giá đóng cửa đƣợc coi là chỉ tiêu chủ yếu về tình hình biến động của tỷ giá trong ngày hôm đó.
Tỷ giá đƣợc công bố vào đầu giờ của đầu ngày giao dịch đƣợc gọi là tỷ giá mở cửa. Trong nghiệp vụ mua bán ngoại hối của ngân hàng còn chia ra tỷ giá tiền mặt và tỷ giá chuyển khoản. Tỷ giá chuyển khoản bao giờ cũng cao hơn tỷ giá tiền mặt. Trong khuôn khổ chế độ quản lý ngoại hối ở các nƣớc kém phát triển, ngoài thị trƣờng ngoại hối chính thức còn tồn tại thị trƣờng ngoại hối tự do, do đó bên cạnh tỷ giá chính thức do nhà nƣớc quy định còn có tỷ giá chợ đen do quan hệ cung cầu ngoại hối trên thị trƣờng này quyết định.