Chương 1 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC VI MÔ Hoạt động kinh tế là hoạt động thường xuyên của con người. Nó bao gồm hoạt động kinh doanh hàng hóa hoặc dịch vụ, hoạt động mua bán tài sản tài chính, hoạt động tín dụng (đi vay, cho vay),. Các hoạt động kinh tế thường nhằm mục đích tạo ra sản phẩm hay dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu của con người nên chúng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống, xã hội của con người. Nghiên cứu kinh tế học giúp cho con người hiểu về cách thức vận hành của nền kinh tế nói chung và cách thức ứng xử của từng chủ thể tham gia vào nền kinh tế nói riêng.
Kinh tế học quan tâm đến hành vi của toàn bộ nền kinh tế và hành vi của các chủ thể riêng lẻ trong nền kinh tế, bao gồm các doanh nghiệp, hộ tiêu dùng, người lao động và chính phủ. Kinh tế học vi mô là một bộ phận của kinh tế học, thông qua nghiên cứu bộ phận này giúp chúng ta có được lời giải đáp về cách thức các doanh nghiệp làm thế nào để tối đa hóa lợi nhuận, các hộ tiêu dùng làm thế nào để tối đa hóa được lợi ích, người lao động làm thế nào để tối đa hóa tiền công. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ HỌC 1. Khái niệm Kinh tế học và Kinh tế học vi mô Tác phẩm "Bàn về nguồn gốc của cải" của Nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith đã đánh dấu mốc quan trọng cho sự ra đời thực sự của Kinh tế học vào năm 1776.
Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu cách thức mà cá nhân và xã hội lựa chọn việc sử dụng nguồn lực khan hiếm của mình như thế nào. Các nhà kinh tế học thống nhất vấn đề cốt lõi trong kinh tế học là vấn đề khan hiếm. Do bất kỳ một chủ thể nào trong nền kinh tế như chính phủ, doanh nghiệp, cá nhân hay nhìn chung toàn bộ nền kinh tế cũng phải đối mặt với sự khan hiếm. 17 Cụ thể: - Đối với cá nhân, khan hiếm thể hiện ở tiền bạc - mong muốn nhiều nhưng tiền (thu nhập) có giới hạn.
Hay khan hiếm thời gian (1 ngày chỉ có 24 giờ) - muốn làm nhiều việc nhưng thời gian có hạn, và mỗi người đều phải dành thời gian để nghỉ ngơi, tái tạo lại sức lao động của mình. - Đối với doanh nghiệp, khan hiếm về vốn, tiền, thiếu lao động có kỹ năng và chất lượng cao, máy móc, trang thiết bị hiện đại. Khi tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh, không doanh nghiệp nào có thể đảm bảo đầy đủ được tất cả các nguồn lực. - Đối với một nền kinh tế dù là các nước giàu hay các nước nghèo cũng phải đối mặt với khan hiếm.
Ví dụ: Khan hiếm về tài nguyên thiên nhiên để sản xuất ra các hàng hóa phục vụ cho nhu cầu của tất cả người dân. Các nước vẫn phải nhập khẩu những nguyên vật liệu, hay phải nhập khẩu cả hàng tiêu dùng. Các nước giàu như Mỹ, bên cạnh những ngôi nhà chọc trời vẫn có những căn nhà được ví như “Ổ chuột”. Khi đối diện với sự khan hiếm, các chủ thể trong nền kinh tế bắt buộc phải lựa chọn.
Kinh tế học đã giải thích được hành vi lựa chọn của các chủ thể trong nền kinh tế là như thế nào? Một nhận định khác về kinh tế học được phát biểu: Kinh tế học là môn khoa học của sự lựa chọn trong điều kiện khan hiếm. Khái niệm này nêu ra mục đích của sự ra đời của kinh tế học là để giải quyết vấn đề khan hiếm. Các nguyên tắc giải quyết của kinh tế học có khả năng áp dụng vào nhiều lĩnh vực trong đời sống như thương mại, tài chính, xã hội học,. Dựa trên các cấp độ nghiên cứu của kinh tế học có thể chia môn khoa học này thành hai bộ phận là kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô.
Kinh tế học vi mô chuyên nghiên cứu và phân tích các hành vi kinh tế của các tác nhân trong nền kinh tế như: Người tiêu dùng, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và chính phủ. Kinh tế vĩ mô nghiên cứu các vấn đề kinh tế tổng hợp của một nền kinh tế như tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp, các chính sách kinh tế vĩ mô,. 18 Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô là hai bộ phận của kinh tế học nhưng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Chúng ta sẽ không thể hiểu được các hiện tượng kinh tế vĩ mô nếu không xem xét các quyết định kinh tế vi mô, vì những thay đổi trong toàn bộ nền kinh tế phát sinh từ các quyết định của các cá nhân.
Ví dụ, các doanh nghiệp trong nền kinh tế hoạt động kinh doanh hiệu quả sẽ có thể góp phần vào việc cải thiện các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của một quốc gia như: Giải quyết thất nghiệp, đóng góp vào tăng trưởng, xuất khẩu, kiềm chế lạm phát,. Do vậy, hành vi kinh tế vi mô có tác động đến việc đưa ra chính sách vĩ mô. Ngược lại, các chính sách vĩ mô sẽ có ảnh hưởng tới hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế. Ví dụ, Việt Nam đưa ra chính sách kích thích kinh tế vào cuối năm 2008 đầu năm 2009 đã tác động mạnh đến tăng tiêu dùng của các cá nhân, hộ gia đình và sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ở trong nước.
Kinh tế học thực chứng và Kinh tế học chuẩn tắc Kinh tế học thực chứng mô tả, phân tích, giải thích các sự kiện, hiện tượng kinh tế một cách khách quan, khoa học. Để nhận biết đâu là nghiên cứu kinh tế học thực chứng, chúng ta xem xét nghiên cứu đó có trả lời cho các câu hỏi sau hay không: Vấn đề đó là gì? Như thế nào? Tại sao lại như vậy? Điều gì sẽ xảy ra? Khi nghiên cứu kinh tế học thực chứng chúng ta xem xét những luận điểm dưới dạng: Nếu điều này thay đổi thì điều kia sẽ xảy ra. Chúng ta có thể thấy và dễ hình dung về bản chất của kinh tế học thực chứng theo quan điểm này giống như khoa học Kinh tế học vi mô. Ví dụ: Khi giá xăng tăng lên, người tiêu dùng sẽ có xu hướng tiết kiệm hơn, chi tiêu về xăng sẽ giảm, giả định các yếu tố khác không đổi.
Kinh tế học chuẩn tắc liên quan đến việc đánh giá chủ quan của các cá nhân, phán xét về mặt giá trị. Các nghiên cứu kinh tế học chuẩn tắc thường để trả lời cho câu hỏi: Nên làm gì? Nên làm như thế nào? Ví dụ, trường đại học cần có chính sách hỗ trợ cho sinh viên trong quá trình học 19 tập. Hay để giảm thiểu những chi phí trong quá trình tổ chức thi, các trường đại học nên thực hiện quy định thi một lần. Mặc dù có sự khác biệt, nhưng kinh tế học thực chứng và chuẩn tắc có mối quan hệ với nhau.
Quan điểm thực chứng được hình thành dựa trên sự thống nhất mang tính phổ biến và khách quan, nó là cơ sở cho các quan điểm về chuẩn tắc cho những quyết định, chính sách nào là nên làm. Hay, kinh tế học thực chứng là trung tâm của kinh tế học và kinh tế học chuẩn tắc sẽ là nhân tố thúc đẩy và tạo ra hướng nghiên cứu mới cho kinh tế học thực chứng. Ví dụ, phát biểu “Người nghèo có đời sống rất khó khăn (Thực chứng) và chính phủ nên trợ cấp cho họ (Chuẩn tắc)” hay “Lạm phát tăng cao sẽ làm cho đời sống của người dân trở nên khó khăn hơn (Thực chứng) và chính phủ cần có biện pháp giảm tỷ lệ lạm phát (Chuẩn tắc)”. Đối tượng và nội dung nghiên cứu của Kinh tế học vi mô Các tác nhân trong nền kinh tế luôn phải thực hiện sự lựa chọn và hành vi đó của họ được lý giải thông qua các nghiên cứu của kinh tế học đặc biệt là trong kinh tế học vi mô.
Như vậy, đối tượng nghiên cứu của kinh tế vi mô là hành vi kinh tế của các tác nhân trong nền kinh tế. Nội dung giáo trình nghiên cứu Kinh tế học vi mô I ở cấp độ cơ bản và hướng tới cung cấp cho người học những kiến thức, nguyên lý chính của vi mô. Từ đó, người học có căn cứ cho việc tiếp cận những lý thuyết, mô hình cao hơn trong các mức độ tiếp theo của vi mô. Để hiểu hơn về đối tượng nghiên cứu, Kinh tế học vi mô I trình bày hệ thống những nội dung chủ yếu sau: - Sử dụng công cụ đường giới hạn khả năng sản xuất để phân tích sự khan hiếm nguồn lực của nền kinh tế.
- Phân tích cung và cầu về hàng hóa và dịch vụ, giá cả thị trường và các mối quan hệ qua lại giữa chúng. Nghiên cứu sự can thiệp của chính phủ vào thị trường hàng hóa và dịch vụ. - Phân tích hành vi lựa chọn của người tiêu dùng để tối đa hóa lợi ích khi phải đối diện với sự khan hiếm về thu nhập. 20 - Nghiên cứu và phân tích hành vi lựa chọn của nhà sản xuất: Xác định chi phí, doanh thu, lợi nhuận và việc lựa chọn đầu vào như thế nào để tối đa hóa sản lượng, tối thiểu hóa chi phí, lựa chọn sản lượng tối đa hóa lợi nhuận.
- Phân tích hành vi của doanh nghiệp trên các cấu trúc thị trường bao gồm thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường độc quyền thuần túy, cạnh tranh độc quyền và độc quyền nhóm. - Phân tích và làm rõ hành vi của các doanh nghiệp, người lao động ở thị trường các yếu tố đầu vào bao gồm các đầu vào chủ yếu như: Lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên. Phương pháp nghiên cứu kinh tế học vi mô Kinh tế học là một môn khoa học nên phương pháp nghiên cứu kinh tế học cũng tương tự các môn khoa học tự nhiên như toán học, sinh học, hoá học hay vật lý. Tuy nhiên, kinh tế học nghiên cứu hành vi kinh tế của con người, nên phương pháp nghiên cứu kinh tế học nói chung và kinh tế học vi mô nói riêng cũng có nhiều điểm khác với các môn khoa học tự nhiên khác, ví như phương pháp phân tích cận biên được giới thiệu ở nội dung tiếp theo.
Phương pháp nghiên cứu của kinh tế học vi mô bao gồm: - Phương pháp mô hình hóa, bao gồm việc xây dựng mô hình, phát triển mô hình bằng cách phân tích dựa trên các dữ liệu thu thập được, kiểm chứng thực tế.