Nội dung của môn học/mô đun: BÀI 3: TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM Giới thiệu: Bài 3 giới thiệu những tôn giáo lớn thế gới có ở Việt Nam như: Phật gióa, Đạo giáo, Nho Giáo, Thiên Chúa giá, Hồi giáo, Bà LaMoon giáo,.và những tôn giáo nội sinh trong nước như: đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo,…Những đặc điểm, những ảnh hưởng của tôn giáo vào đời sống của người dân, vào kiến trúc, ẩm thực, tập quán,…Bên cạnh đó bài bày cũng giới thiệu những phong tục, tín ngưỡng của người dân như tín nguowngxphoonf thực, tín ngưỡng thờ thành hoàng làng,…Đây là những mảng kiến thức rất hữu ích cho công việc hướng dẫn du lịch sau này. Mục tiêu: Giúp cho sinh viên nắm bắt được các kiến thức về tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán của dân tộc Việt Nam. Sau khi học xong bài này, sinh viên có thể vận dụng được những kiến thức này vào trong bài thuyết trình trên lớp và xa hơn nữa là vận dụng nó vào trong hoạt động hướng dẫn du lịch của mình sau này. Nội dung chính: Bài 3: Tín ngưỡng và tôn giáo trong văn hóa Việt Nam 1.
Khái niệm: Tín ngưỡng là niềm tin đến mức độ ngưỡng mộ một tôn giáo, một nhân vật lịch sử,. với mong muốn đem lại sự tốt đẹp cho con người 1. Một số hình thái tín ngưỡng Việt Nam 1.Thờ thổ công: 50 Người Việt quan niệm thổ công là một vị thần cai quản, trông nom trong nhà, quyết định họa phúc cho gia đình, ngăn cản hồn ma quỉ xâm nhập quấy nhiễu trong gia đình, nên thường gọi là đệ nhất gia chi chủ. Bàn thờ thổ thường đặt ở gian bên cạnh bàn thờ tổ tiên; các gia đình không lập bàn thờ tổ tiên (chẳng hạn, con thứ đã ra ở riêng nhưng bố mẹ còn sống) thì có thể đặt bàn thờ thổ công ở gian chính giữa.
Tùy điều kiện nhà cửa của gia đình mà bố trí bàn thờ, có khi chỉ là bát hương thổ công. Gia đình có điều kiện, trên ban thờ có đủ mâm, đài rượu, bài vị (có khi được thay bằng một mũ đàn bà ở chính giữa, hai mũ đàn ông ở hai bên, bát hương (hoặc đỉnh trầm) - Bàn thờ thổ công gồm 3 vị: + Bản gia Đông trù tư mệnh Táo phủ thần phân (thổ công, trông coi việc bếp núc). + Bản gia Thổ địa Long mạch tôn thần (thổ địa trong coi việc nhà cửa). + Bản gia Ngũ phương ngũ thế phúc đức chính thần (thổ kỳ, trông coi việc chợ búa cho phụ nữ, hoặc việc sinh sản các vật ở vườn đất).
Mũ thổ công: gồm một mũ đàn bà (không có cánh chuồn), hai mũ đàn ông (có cánh chuồn). Mỗi mũ kèm theo một chiếc áo và một đôi hia, dưới mũ đặt 100 đồng vàng thoi. Mũ, áo, hia mỗi năm một màu, phù hợp với ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ). Cúng thổ công vào ngày sóc (ngày mồng 1) ,vọng (ngày rằm) hàng tháng, 23 tháng chạp.
Tuy nhiên có ý kiến cho rằng, ngày 23 tháng chạp cúng thần lửa, thần bếp để tôn vinh người phụ nữ đã phát hiện ra lửa từ thời nguyên thủy. Thờ tiền chủ + Tiền chủ là chủ của ngôi nhà đã ở đầu tiên cho đến lúc chết. Sau đó, ngôi nhà qua nhiều chủ khác, nhưng tại cõ âm, người tiền chủ vẫn nhớ ngôi 51 nhà cũ nên thỉnh thoảng về thăm nom. Vì thế, các chủ sau này không muốn bị vong hồn người tiền chủ quấy rối phải lập bàn thờ tiền chủ.
+ Bản thờ tiền chủ chính là cây hương đặt ở ngoài sân; là một trụ cao khoảng 1 mét trở lên, phía trên xây rộng ra như một cái khám thờ, có thành ở đằng sau và hai bên. Trên bàn thờ đặt một bát hương, không có bài vị vì không ai biết tên người tiền chủ, nên khi khấn chỉ khấn “Tiền chủ“, thường cúng vào các ngày sóc, vọng, ngày giỗ, ngày Tết hay khi trong nhà có chuyện vui mừng, hoặc chuyện không hay. Thờ thần tài: Thần tài là vị thần mang tài lộc cho gia đình, mỗi khi làm việc gì. Thần tài thường ở xó nhà, xuất phát từ điển tích ở Trung Quốc: một người lái buôn tên là Âu Minh qua hồ Thanh Thảo, được thủy thần cho một nô tỳ tên là Như Nguyệt.
Âu Minh đưa về nuôi trong nhà, làm ăn ngày càng phát đạt. Sau nhân ngày tết, Như Nguyệt làm ông bực tức, ông lấy chổi cầm đánh Như Nguyệt. Nguyệt biến vào đống rác và biến mất. Từ đó Âu Minh làm ăn sa sút dẫn tới sạt nghệp.
Người đời sau tin rằng, đó là do Như Nguyệt là thần tài do thủy thần đem lại đã bị Âu Minh đánh đuổi. Tục lập bàn thờ thần tài và kiêng quét rác 3 ngày tết xuất phát từ điển tích này. Ở người Việt, thường chỉ gia đình buôn bán mới lập bàn thờ thần Tài. Bàn thờ là một cái khám bằng gỗ nhỏ, sơn son thiếp vàng đặt ở xó nhà hay cửa ra vào.
Phía trong khám có dán bài vị với hàng chữ “Ngũ phương ngũ thổ long thần, tiền hậu địa chủ tài thần“ hoặc câu đối: Thổ năng sinh bạc ngọc, địa khả xuất hoàng kim. Trước bài vị có 2 bát hương, 2 cây nến, chén nước, chén rượu. Ngày thường chỉ thắp hương thần tài bằng hoa quả. Ngày sóc và ngày vọng cúng mặn.
Thường cúng vào buổi chiều. Thờ đức thánh Việc thờ Đức thánh ở Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc. Dân gian quan niệm, những người tài năng xuất chúng, đức độ khi chết đi được hiển thánh và lãnh nhiệm cai quản một vùng sông nước, phù hộ độ trì cho con người trong phạm vi cai quản. Đức thánh là vị thần cai quản một vùng sông nước, còn thành hoàng làng là người che chở, phù hộ cho từng cộng đồng làng.
Cũng như việc thờ Thành hoàng làng, việc thờ Đức Thánh được “Việt hóa“ và biểu hiện khác nhau theo từng địa phương. Ở ven biển Bắc Bộ, Đức Thánh ở dạng phổ biến nhất là “Đức Thánh Trần“. Song nhiều vùng ven tỉnh Quảng Ninh lại thờ Đức Ông Cửa Sóc tức Trần Quốc Toản, ở huyện Yên Hưng lại thờ Đức Thánh Niệm, tức Mạc Chính Trung thời nhà Mạc, ở vùng Hà Tĩnh thánh là Lê Văn Khôi, một nhân vật lịch sử dưới thời nhà Nguyễn. Vào Nam Bộ nhất là vùng Tây Nam Bộ, thánh có khi là Quan Công, một nhân vật lịch sử thời Tam Quốc; có nơi là Mạc Cửu, có nơi là Nguyễn Trung Trực,.
Dù là nhân vật có nguồn gốc nào thì các vị thánh này đề có sứ mệnh che chở, phù hộ cho cư dân đi biển, được lập đền miếu thờ phụng.Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên - Tục thờ cúng tổ tiên: ông bà sinh thành ra nên tôn kính nhất. - Tục thờ thổ công: thổ công định đoạt phúc họa cho cả nhà nên quan trọng nhất. Ở miền Nam thổ công được thay bằng ông địa: bàn thờ đặt dưới đất. Nhiều nơi đồng nhất ông địa với thần tài 1.
Tín ngưỡng thờ mẫu - Ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ, tín ngưỡng thờ mẫu đã ăn sâu vào văn hóa người Việt. Các tín ngưỡng này được thờ phụng trong các phủ, đền, điện như phủ Tây Hồ, điện Hòn Chén,. 53 - Lễ hội tín ngưỡng cũng giống như các lễ hội khác, hiện tượng lên đồng cũng là tín ngưỡng thờ mẫu. Có bốn vị thần được thờ phụng trong đền, phủ, điện: + Mẫu thiên: mẹ trời được thờ ở chùa Thiên Mụ, Thiên Yana… + Mẫu thoải: thần nước + Mẫu địa là thần đất + Mẫu ngàn thần núi rừng.
+ Các bà Mây- Mưa - Sấm - Chớp: gọi là tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) cũng được thờ phụng trong đền chùa,… 1.Tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng: Là vị thần che chở, phù hộ cho dân làng được sống yên ổn, tránh mọi hoạn nạn. - Tín ngưỡng này xuất phát từ Trung Quốc và truyền vào Việt Nam khoảng thế kỷ thứ XV. - Mỗi làng có một vị thần để thờ trong đình làng, Vị thần này có thể được sắc phong thần. Người dân trong làng tôn vinh thần hoàng làng có thể đó là vị anh hùng có công với dân với nước, có thể đó là những nhân vật lịch sử - văn hóa, và cũng có thể là một ông tổ nghề sau khi mất được suy tôn thành thần hoàng làng, hoặc thậm chí là một kẻ ăn mày mà chết trong giờ thiêng,.
Tín ngưỡng phồn thực: Là khát vọng sinh sôi nảy nở của cư dân văn hóa nông nghiệp lúa nước, với mong muốn vạn vật sinh sôi, phát triển. Biểu tượng sinh thực khí linga và yoni và hành vi giao phối của nam và nữ. - Các dấu ấn: 54 + Các tượng linga và yoni trong các tháp Chăm với các hình dạng như là khối trụ tròn, hay khối trụ tròn linga phía trên và hình vuông yoni phía dưới,. + Trong các tranh truyền thống như tranh hứng dừa, hay trên các điêu khắc nam nữ đùa giỡn trên các đình làng,.
+ Trong văn học dân gian như các câu đố tục giải thanh, trong thơ Hồ Xuân Hương – bà chúa thơ nôn của Việt Nam,. + Được thể hiện trong các lễ hội dân gian: như trò tắt đền trong đêm lễ hội Giã la ở Hà Tây; trò múa mo ở trong lễ hội ở Sơn Đồng – Hoài Đức – Hà Nội; trò bắt chạch trong chum ở Vĩnh Phúc - Thờ hành vi giao phối: là thể hiện khát vọng sinh sôi nảy nở, phát triển của con người của vạn vật thiên nhiên, có ở: + Trên nắp thạp đồng Đào Thịnh: có 4 cặp giao phối + Hình ảnh chày cối, hình ảnh giã gạo….cũng là biểu tượng của hành vi giao phối. Khái niệm và những tác động của tôn giáo đến Việt Nam Tùy theo từng góc tiếp cận mà người ta có thể định ngĩa tôn giáo khác nhau. Tồn tại như một thực thể khách quan của lịch sử, tôn giáo là do con người sáng tạo ra như định nghĩa của L.
Phơ bách trong cuốn sách sự ra đời của Ki Tô giáo từ thế kỷ XVIII: “Con người tư duy thế nào, được sắp đặt thế nào thì chúa của họ là thế. Ý thức Chúa là ý thức mà con người rút ra từ bản thân nó“. Các - Mác đã làm rõ thêm bằng quan niệm: “Sự khổ ải tôn giáo vừa là sự biểu hiện sự khổ ải hiện thực, vừa là sự phản kháng sự khổ ải hiện thực đó. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới 55 không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của trạng thái không có tinh thần.
Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.