Mở đầu cho thời kỳ phát triển thành hai hệ thống chính trị xã hội đối lập. Bốn là, Cách mạng Tháng Mười N ga năm 1917 đã thức tỉnh, cổ vũ các dân tộc, các nước thuộc địa bị áp bức, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở các nước tư bản. Nó vạch ra tính tất yếu trong sự liên minh giữa phong trào công nhân với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc; đồng thời chỉ ra rằng chỉ cách mạng vô sản, sự giúp đỡ của giai cấp công nhân các nước đã giành chính quyền mới có thể giải quyết được vấn đề dân tộc. Cách mạng Tháng M ười Nga có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trước thất bại của các phong trào cứu nưởc theo khuynh hướng phong kiến và dân chủ tư sản ở Việt Nam, Nguyễn Tất Thành đã chọn Cách mạng Thảng Mười Nga 1917 làm hình mẫu cho đườrig cách mạng của dân tộc, bởi: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, binh đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mệnh N ga đã đuổi được vua, từ bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới”1. Lựa chọn sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa con thuyền cách mạng Việt Nam đến bến bờ thắng lợi. S ự ra đời và hoạt động của Quốc tế Cộng sản Quốc tế Cộng sản (hay còn gọi là Quốc té III) ra đời năm 1919 và hoạt động đến năm 1943, do V.Lênin trực tiếp lãnh đạo trong thời gian 1919-1924; sau đó l.Stalin kể tục sự nghiệp của V.
Trong thời gian tồn tại, Quốc tế Cộng sản đã thể hiện vai trò lịch sử to lớn trong việc tạo nên khối đoàn kết rộng lớn giữa nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức. Khối đoàn kết này đã thúc đẩy phong hào đấu tranh cách mạng trên thế giới phát triển mạnh mẽ. Quốc tế Cộng sản đã giúp thành lập, củng cố và bồi dưỡng các đảng cộng sản ở các nước và từ đó phát huy vai trò trong phong trào cách mạng mỗi nước. Đồng thời, Quốc tế Cộng sản đã bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, đấu tranh chống mọi khuynh hướng cơ hội - xét lại, phát triển và tiếp tục truyền bá sâu rộng chủ nghĩa Mác-Lênin trong quần chúng.
Quốc tế Cộng sản đã đào tạo cho cách mạng Việt Nam một số cán bộ cách mạng; trong số đó có người đã trở thành lãnh tụ của cảch mạng Việt Nam như: Nguyễn Ái Quốc, Trần Phú, Lê Hồng Phong. Thời gian học ở Trường Đại học phương Đông đã giúp Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh có nền tảng lý luận vững chắc, để sau này vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Khu vực châu Ả và các nước phương Đông Châu Á có diện tích lớn nhất thế giới, giàu có về tài nguyên và có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi. Cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa thì chế độ phong kiến ở châu Á cũng bước vào thời kỳ suy tàn.
Chủ nghĩa đế quốc với lòng tham về siêu lợi nhuận đã sớm hướng tới châu Á. Đến cuối thế kỷ XIX, hầu hết các quốc gia ở châu Á đã trở thành thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Nhật Bản thoát được ách nô lệ nhờ cải cách Minh Trị và hở thành một nước tư bản chủ nghĩa. Các nước còn lại đều trở thành thuộc địa và thị trường của đế quốc Anh, Pháp, Mỹ, Hà Lan.
Cuối thế kỷ XIX đầu thể kỷ XX, phong trào yêu nước ở các nước thuộc địa châu Á vùng lên mạnh mẽ chống lại ách áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân nhưng đều thất bại, do bế tắc về đường lối và phương pháp đấu tranh cách mạng. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước châu Á có ảnh hưởng mạnh mẽ đến Việt Nam và Nguyễn Ái Quốc. Cuộc vận động cải cách của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu (1898), cuộc Cách mạng Tân Hợi (1911) với tư tưởng Tam dân của Tôn Trung Sơn đã tác động mạnh đến tầng lớp sĩ phu yêu nước Việt Nam, tạo nên một phong trào đấu tranh mạnh mẽ. Tư tưởng dân chủ tư sản cũng có tác động, tạo nên phong trào đấu tranh sôi nổi của tầng lớp tư sản dân tộc, tiêu biểu là Việt Nam Quốc dân Đảng.
Từ lịch sử và kinh nghiệm đấu tranh của các dân tộc ở châu Á theo các khuynh hưởng chính trị khác nhau đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhận ra rằng: “Trong thời đại ngày nay, cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới”1. Người đã đặt cách mạng Việt Nam trong mối liên hệ với phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á nói riêng và phong trào cách mạng vô sản thế giới nói chung. Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷX X a. Đất nước * Quá trình thực dân Pháp xâm lược và tiến hành khai thác thuộc địa Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, nhưng phải đén năm 1884 mới hoàn thành việc xâm lược.
Triều Nguyễn lúc đầu đã phát động nhân dân giương cao ngọn cờ chống Pháp. Song nhà Nguyễn đã không kiên trì mà tỏ ra dao động, hèn nhát, ký với Pháp điều ước bán nước. Ngay sau khi xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã bắt tay vào công cuộc khai thác, bóc lột bằng hai cuộc khai thác lần 1 (1897-1914) và lần 2 (1919-1929). về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách phản động, thâm độc: “chia để trị”, “dùng người Việt trị người Việt”.
Chúng thành lập cái gọi là Liên bang Đông Dương bao gồm có Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Campuchia, Lào trực thuộc Bộ thuộc địa và Hải quân. Bắc K ỳ và Trung Kỳ là hai xứ bảo hộ còn duy trì chính quyền phong kiến về mặt hình thức; Nam Kỳ là xứ thuộc địa của Pháp. Đứng đầu Liên bang Đông Dương có toàn quyền người Pháp, thay mặt Chính phủ Pháp cai trị Đông Dương. về kinh tể, thực dân Pháp chủ trương đầu tư sàn xuất trong giới hạn cung cấp nguyên liệu, vật phẩm mà nước Pháp không có, hoặc chỉ bổ sung cho nền kinh tế chính quốc chứ không ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế Pháp.
Do vậy, Pháp đã thi hành nhiều chính sách phát triển nền kinh tế Việt Nam theo hướng phiến diện, què quặt, phụ thuộc hoàn toàn vào Pháp. về văn hóa giáo dục, thực dân Pháp thi hành chính sách “ngu dân”. Những thói hư tật xấu được Pháp dung dưỡng; nạn cờ bạc, rượu chè, nghiện thuốc phiện được khuyến khích mở rộng. Chúng sử dụng công cụ báo chí để cổ vũ cho công cuộc khai thác như báo Lục tỉnh tân văn, Đ ại Việt tân báo.
để ca ngợi chính sách khai hóa, hô hào mở rộng công, thương nghiệp, truyền bá văn minh phương Tây vào Việt Nam. Tất cả những chính sách đó nhằm làm cho nhân dân Việt Nam rơi vào cảnh mù chữ, suy kiệt giống nòi, làm cho một bộ phận nhân dân chìm đắm trong khói thuốc phiện, hơi rượu cồn để quên đi nỗi nhục mất nước. Nguyễn Ái Quốc đã nhận xét: “Rượu cồn và thuốc phiện cùng báo chí phản động của bọn cầm quyền bổ sung cho cái công cuộc ngu dân của Chính phủ. M áy chém và nhà tù làm nót phần còn lại”1.
* Sự biển đổi của xã hội Việt Nam dưới tác động của quá trình xâm lược, khai thác và bóc lột thuộc địa của thực dân Pháp Trước tác động của hai cuộc khai thác thuộc địa, xã hội Việt Nam đã biến đổi từ m ột xã hội phong kiến cổ truyền phương Đông sang một xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Các chính sách kinh té của thực dân Pháp đã phá vỡ tính chất độc tôn phong kiến của nền kinh tế cũ. Nền kinh tế Việt Nam là sự hỗn dung của hai yếu tố tư bản chủ nghĩa và phong kiến, tạo nên diện mạo xã hội mới thực dân, phong kiến. Đặc điểm nổi bật của cơ cấu kinh tế là ở sự phát triển mất cân đối của một nền nông nghiệp cổ hủ, công nghiệp mong manh.
Trong công nghiệp, thực dân Pháp chủ yếu phát triển ngành công nghiệp khai thác mỏ, các ngành sản xuất khác hầu như không phát triển. về chính trị, V iệt Nam vốn là nước phong kiến độc lập có chủ quyền. Từ khi thực dân Pháp xâm lược đã thay đổi thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Việt Nam không những bị mất độc lập, chủ quyền m à còn bị sáp nhập với Lào và Campuchia thành Liên bang Đông Dương, không có tên trên bản đồ thế giới.
Đất nước chia làm ba kỳ với ba chế độ khác nhau. Vua quan nhà Nguyễn chỉ là bù nhìn. Mọi công việc đều do người Pháp quyết định. Như vậy, từ địa vị làm chủ nước nhà, triều Nguyễn đã mất quyền điều hành đất nước mà giao cho thực dân Pháp quản lý.
về vãn hóa - giáo dục, ảnh hưởng của thành tựu khoa học kỹ thuật phương Tây đã thúc đẩy và tăng cường mối quan hệ tiếp xúc giữa hai nền văn hóa Á - Âu, Đông - Tây. Việc in ấn, xuất bản các sách giới thiệu về những thành tựu khoa học phương Tây, triết học. đã làm thay đổi nhận thức của người Việt Nam. Đặc biệt, ảnh hưởng của sách báo Trung Quốc, Nhật Bản đã tạo ra một trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản, từ đó hình thành khuynh hướng dân chủ tư sản trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc những năm đầu thế kỷ XX.
Các giá trị văn hóa mới của dân tộc đang dàn dần hình thành và phát triển, nhất là trên lĩnh vục văn học nghệ thuật. Sự ra đời của một loạt các trào lưu văn học mới góp phần tố cáo tội ác của thực dân Pháp, thức tỉnh nhân dân đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho Tổ quốc. về xã hội, trước khi thực dân Pháp xâm lược, cơ cấu giai cấp - xã hội Việt Nam chỉ có hai giai cấp chính là nông dân và địa chủ phong kiến. Dưới sự tác động của công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp đã làm cho cơ cấu giai cấp - xã hội Việt Nam biến đổi sâu sắc.