Khóa luận: Vận dụng quan điểm học đi đôi với hành của Hồ Chí Minh tại AJC

Khóa luận tốt nghiệp về việc sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền vận dụng quan điểm học đi đôi với hành của Hồ Chí Minh vào thực tiễn hiện nay.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp
100
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quan điểm học đi đôi với hành của Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh coi giáo dục là nền tảng phát triển quốc gia. Quan điểm học đi đôi với hành là phương châm giáo dục cốt lõi. Lý luận gắn liền với thực tiễn tạo nên tri thức hoàn chỉnh. Thực tiễn không có lý luận soi đường là thực tiễn mù quáng. Lý luận không liên hệ thực tiễn chỉ là lý luận suông. Mục đích học tập nhằm nâng cao tri thức, rèn luyện đạo đức cách mạng và phụng sự nhân dân. Nội dung giáo dục phải mang tính toàn diện. Người học cần nắm vững chuyên môn, văn hóa và lý luận chính trị. Đối với sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền, nguyên lý này định hướng toàn bộ hoạt động đào tạo. Môi trường báo chí truyền thông đòi hỏi khả năng tác nghiệp thực tế nhanh nhạy. Việc nắm vững tư tưởng giúp người học định hình phương pháp luận vững chắc. Sự kết hợp chặt chẽ giữa sách vở và đời sống thực tế tạo lập tư duy phản biện. Sinh viên từ đó làm chủ công nghệ và tự tin trong môi trường truyền thông số.

1.1. Bản chất quan điểm học đi đôi với hành

Học là quá trình tiếp thu tri thức lý thuyết và quy luật khách quan. Hành là việc đem tri thức áp dụng vào lao động sản xuất và đời sống xã hội. Hai yếu tố này tác động biện chứng lẫn nhau. Học giúp định hướng hành động đúng đắn. Hành giúp kiểm nghiệm, bổ sung và hoàn thiện nhận thức lý luận. Hồ Chí Minh nhấn mạnh người học phải tránh thói học vẹt, học hình thức. Giáo dục cần xuất phát từ thực tiễn để phục vụ lợi ích của nhân dân. Mọi bài học lý thuyết đều phải hướng tới kết quả giải quyết vấn đề cụ thể ngoài xã hội.

1.2. Yêu cầu vận dụng đối với sinh viên báo chí

Sinh viên trường Báo giữ vai trò là đội ngũ làm công tác tư tưởng và truyền thông tương lai. Ngành học đặc thù đòi hỏi sự nhạy bén chính trị và kỹ năng nghiệp vụ sắc bén. Người học phải chuyển hóa tri thức lý luận Mác - Lênin thành kỹ năng tác nghiệp thực tế. Việc viết tin, làm phóng sự, sản xuất nội dung số cần bám sát dòng chảy cuộc sống. Sự trung thực, tính nhân văn và lập trường tư tưởng vững vàng là yêu cầu bắt buộc. Sinh viên phải chủ động rèn luyện đạo đức nghề nghiệp song song với trau dồi chuyên môn báo chí.

II. Thực trạng sinh viên Báo chí vận dụng học đi đôi với hành

Thực tế đào tạo tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Đa số sinh viên thể hiện tinh thần năng động, sáng tạo và cầu tiến. Sinh viên tích cực tham gia các câu lạc bộ nghiệp vụ, sản xuất sản phẩm truyền thông và thực tập sớm tại các cơ quan báo chí. Hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên ngày càng thu hút đề tài gắn liền thực tiễn truyền thông hiện đại. Tuy nhiên, quá trình vận dụng vẫn còn những hạn chế nhất định. Một bộ phận sinh viên vẫn học tập thụ động, nặng về thi cử lấy điểm. Việc nghiên cứu khoa học đôi khi còn mang tính đối phó, thiếu tính ứng dụng dài hạn. Một số sinh viên đi làm thêm quá sớm nhưng làm công việc không đúng chuyên ngành, gây ảnh hưởng đến thời gian học tập chính khóa. Mối liên kết giữa lý luận chính trị và kỹ năng thực hành nghề nghiệp chưa thực sự đồng bộ.

2.1. Những kết quả tích cực đạt được trong học tập

Sinh viên nhà trường chủ động tiếp cận công nghệ làm báo hiện đại. Nhiều nhóm tác giả sinh viên đạt giải cao trong các cuộc thi báo chí và nghiên cứu khoa học cấp Bộ. Các sản phẩm phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử do sinh viên thực hiện có chất lượng nghiệp vụ tốt. Hoạt động tình nguyện và chiến dịch truyền thông xã hội thu hút đông đảo sinh viên tham gia. Qua thực tiễn, sinh viên tích lũy kinh nghiệm làm việc nhóm, kỹ năng phỏng vấn và xử lý thông tin. Nhận thức chính trị và đạo đức nghề nghiệp của sinh viên từng bước được củng cố vững chắc.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân tồn tại trong nghiên cứu

Phương pháp học tập của một số sinh viên còn mang tính ghi chép thụ động. Kỹ năng tư duy phản biện và xử lý số liệu nghiên cứu còn nhiều bỡ ngỡ. Cơ sở vật chất phục vụ thực hành chuyên ngành đôi lúc chưa đáp ứng kịp sự thay đổi của kỷ nguyên số. Sự phối hợp giữa nhà trường và cơ quan báo chí đôi khi chưa thực sự sâu rộng. Áp lực kinh tế khiến sinh viên phân tán thời gian cho các công việc lao động phổ thông. Ý thức tự học và tự nghiên cứu lý luận chính trị của một bộ phận người học chưa thực sự cao.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả học đi đôi với hành hiện nay

Để tối ưu hóa nguyên lý học đi đôi với hành, cần thực hiện đồng bộ nhiều nhóm giải pháp. Nhà trường cần đổi mới chương trình đào tạo theo hướng tinh giản lý thuyết hàn lâm, tăng thời lượng thực hành xưởng và dự án. Giảng viên cần tích cực ứng dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề và mô phỏng tình huống thực tế. Sinh viên cần xác định động cơ học tập đúng đắn, xây dựng kế hoạch học tập khoa học. Việc chủ động tham gia đề tài nghiên cứu khoa học giúp rèn luyện tư duy logic và kỹ năng phát hiện vấn đề. Mở rộng hợp tác giữa nhà trường với các tập đoàn truyền thông, cơ quan báo chí tạo môi trường cọ xát nghề nghiệp chuẩn mực. Đầu tư hệ thống phòng thu, trường quay ảo và trung tâm dữ liệu phục vụ đào tạo truyền thông số. Sinh viên cần rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng và văn hóa ứng xử trên không gian mạng.

3.1. Đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy

Học viện cần tiếp tục tích hợp công nghệ số vào chương trình giảng dạy lý luận và nghiệp vụ. Giảng viên tăng cường giao bài tập lớn dưới dạng đề án truyền thông thực tế. Các buổi hội thảo chuyên đề với nhà báo uy tín cần được tổ chức thường xuyên. Đổi mới phương thức đánh giá kết quả học tập qua sản phẩm truyền thông thực tế thay vì bài thi lý thuyết thuần túy. Xây dựng môi trường học thuật khuyến khích sáng tạo và tranh luận học thuật cởi mở. Hoạt động này giúp người học hình thành năng lực phản xạ nghề nghiệp nhanh nhạy.

3.2. Nâng cao tính chủ động tự học của sinh viên

Mỗi sinh viên cần tự giác xây dựng thói quen đọc sách và nghiên cứu tài liệu chuyên sâu. Việc kết hợp kiến thức lý luận với quan sát đời sống xã hội hàng ngày là yếu tố then chốt. Sinh viên nên lựa chọn công việc làm thêm có liên quan trực tiếp đến ngành học để tích lũy kinh nghiệm. Tích cực tham gia câu lạc bộ học thuật và các dự án truyền thông cộng đồng giúp nâng cao kỹ năng mềm. Rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng giúp sinh viên phản bác hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch.

IV. Ý nghĩa ứng dụng học đi đôi với hành đối với sinh viên

Quan điểm học đi đôi với hành của Chủ tịch Hồ Chí Minh giữ nguyên giá trị thời đại trong kỷ nguyên số. Đối với sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền, nguyên lý này là kim chỉ nam cho sự phát triển toàn diện cả đức lẫn tài. Việc gắn chặt lý luận với thực hành giúp sinh viên làm chủ kiến thức, tinh thông nghiệp vụ và vững vàng bản lĩnh tư tưởng. Sau khi tốt nghiệp, sinh viên có khả năng thích ứng ngay với môi trường làm việc khắc nghiệt tại các cơ quan thông tấn báo chí. Đóng góp của đội ngũ này củng cố mặt trận tư tưởng văn hóa của Đảng và phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước. Việc kiên định thực hiện phương châm giáo dục của Bác bảo đảm nguồn nhân lực truyền thông vừa hồng vừa chuyên. Tinh thần học tập suốt đời và gắn bó mật thiết với nhân dân là chìa khóa mở ra thành công lâu dài.

4.1. Khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn đề tài

Đề tài khóa luận tốt nghiệp đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Nghiên cứu cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng học tập của sinh viên báo chí hiện nay. Các phân tích chỉ rõ điểm mạnh cần phát huy và hạn chế cần khắc phục trong công tác đào tạo. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho công tác quản lý giáo dục đại học. Công trình góp phần nâng cao nhận thức của người học về vai trò then chốt của thực hành nghề nghiệp.

4.2. Định hướng phát triển sự nghiệp truyền thông tương lai

Trong bối cảnh bùng nổ truyền thông số và trí tuệ nhân tạo, sinh viên báo chí càng cần làm chủ lý luận chính trị và kỹ thuật số. Thực tiễn nghề nghiệp đòi hỏi khả năng tác nghiệp đa nền tảng và kiểm chứng nguồn tin chính xác. Việc rèn luyện phương pháp học đi đôi với hành giúp người làm báo tương lai giữ vững đạo đức ngòi bút. Đây là nền tảng vững chắc để xây dựng nền báo chí cách mạng Việt Nam chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Kltn sinh viên học viện báo chí và tuyên truyền vận dụng quan điểm học đi đôi với hành của hồ chí minh trong học tập nghiên cứu hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề rõ ràng để giúp thầy giáo và sinh viên nghiên cứu: “Phải hiểu rõ học thế nào” Học cái gì? Học để làm gì?”. Tại Đại hội sinh viên lần thứ hai, ngày 7/5/1958, một lần nữa Bác nhắc lại và nhấn mạnh: “Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt hai câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát thì mới có phương hướng”. Bác chỉ rõ: “Dưới chế độ thực dân, phong kiến, mục đích đi học là cốt được mảnh bằng để làm ông thông, ông phán, lĩnh lương nhiều, ăn ngon, mặc đẹp. Số phận dân tộc thế nào, tình hình thế giới biến đổi thế nào, không hay, không biết gì hết.

Mục đích giáo dục nô lệ hầu hạ chúng. Ngày nay ta đã được độc lập, tự do, thanh niên mới thật là người chủ tương lai của nước nhà. Muốn xứng đáng vai trò là người chủ thì 19 phải học tập. Học bây giờ với học dưới chế độ thực dân, phong kiến khác nhau”, “Học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và quân sự” và “Học để phụng dự ai? Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh, tức là để làm tròn nhiệm vụ người chủ của nước nhà”.

Bác còn nói: “Làm nghề gì cũng phải học” và mục đích của việc học là để “nâng cao năng lực làm cho kinh tế phát triển, chiến đấu thắng lợi, đời sống nhân dân càng no ấm, vui tươi”. Bác cũng căn dặn, nhắc nhở thanh niên, nhất là những đoàn viên TNCS Hồ Chí Minh cần ghi nhớ lời di huấn của Lênin: “Không học thì không thể trở thành người cộng sản”, “người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một bộ phận không nhỏ thanh niên sinh viên chưa chăm chỉ học tập, còn hiện tượng chạy điểm, chạy bằng; một số thanh niên sinh viên mắc vào tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật. Bác dạy học phải đi đôi với hành.

Bác chỉ rõ tầm quan trọng của thực hành. Hành cũng chính là một nửa của học. Bác nói: “Chỉ biết lý luận (lý thuyết) mà không biết thực hành thì cũng là trí thức có một nửa. Vì vậy cho nên các cháu trong lúc học về lý luận thì cũng phải kết hợp với thực hành”, “lý luận phải gắn liền với thực tế”.

Bác cũng đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết để xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Cần có lao động, lao động trí óc và lao động chân tay. Và cần lao động trí óc kiêm lao động chân tay, nghĩa là lao động chân tay cũng phải có văn hoá, mà người lao động trí óc cũng phải làm được lao động chân tay. Nếu lao động trí óc không làm được lao động chân tay và lao động chân tay không có trí óc thì đó là người lao động bán thân bất toại…”. Bác nhắc nhở các nhà trường “không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu…”.

Nội dung quan điểm Hồ Chí Minh về học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn 20 Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở chúng ta phải dè chừng cái bệnh lý luận suông. Người nói: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” [ 23, tr.

Hồ Chí Minh có nhiều cách diễn đạt khác nhau: “Lý luận đi đôi với thực tiễn”; “Lý luận kết hợp với thực hành”; “Lý luận và thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau”; “Lý luận phải liên hệ với thực tế”…nhưng dù nói “đi đôi”, “gắn liền”, “kết hợp” thì điều cốt lõi nhất mà Hồ Chí Minh muốn nhấn mạnh là: “Thống nhất lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin [ 37, tr. Về mối quan hệ giữa giáo dục với nhu cầu của thực tiễn phát triển của đất nước, trong thư gửi Hội nghị giáo dục toàn quốc tháng 3 năm 1955, Người nhận định: “Một thiếu sót trong công tác giáo dục là ít kết hợp chủ trương và chính sách của Bộ với tình hình cụ thể và kinh nghiệm quý báu của các địa phương” [ 22, tr. Điều này vô hình chung, chính sách của các cấp quản lý về cơ bản không phù hợp với thực tiễn của đất nước cũng như năng lực, khả năng chủ động và tự chịu trách nhiệm của các Nhà trường trước yêu cầu của thực tiễn. Về vai trò của việc trang bị kiến thức lý luận, Người nói: “lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế.

Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” [20, tr. Còn thực tế là gì? Người nói: “thực tế là các vấn đề mình phải giải quyết, là mâu thuẫn của sự vật”. Thực tiễn còn là mục đích của nhận thức, lý luận. Mọi tri thức, hiểu biết của con người đều nảy sinh từ thực tiễn, và chỉ có ý nghĩa thực sự khi được vận dụng vào thực tiễn, nhằm chỉ đạo thực tiễn.

Hồ Chí Minh cho rằng: “Hiểu biết do thực hành mà ra. Hiểu biết lại trải qua thực hành mà thành lý luận. Lý luận ấy dùng vào thực hành. Sự tiến tới của hiểu biết chẳng những ở chỗ từ cảm giác tiến đến lý luận, mà cốt lõi nhất là từ lý luận tiến đến thực hành cách mạng.

Đã nắm được quy luật thế giới thì phải dùng nó vào thực hành cải tạo thế giới…” [22, tr. 21 Lý luận là cái để áp dụng thực tế, để giải quyết những mâu thuẫn trong cuộc sống hằng ngày, lý luận đúng đắn sẽ giúp cho thực tiễn sinh động ít sai lầm, góp phần cải tạo hiện thực tốt hơn. Kém lý luận, khinh lý luận không chỉ dẫn tới bệnh kinh nghiệm mà còn dẫn tới bệnh giáo điều, bởi do kém lý luận nên không hiểu thực chất của lý luận, chỉ thuộc câu, chữ lý luận mà không hiểu được bản chất những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh. Điều này dẫn tới việc không vận dụng được lý luận để giải quyết những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh.

Thậm chí, nếu vận dụng được thì cũng không sát thực tế, không phù hợp với thực tiễn. Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở rằng, có lý luận rồi thì phải kết hợp chặt chẽ với kinh nghiệm thực tiễn, liên hệ với thực tiễn, nếu không lại mắc phải bệnh lý luận suông, tức bệnh giáo điều. Người học lý luận mà không đem áp dụng vào thực tế thì “khác nào một cái hòm đựng sách”, “xem sách nhiều để mà lòe, để làm ra ta đây, thế không phải là biết lý luận” [20, tr.234]; “lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn.

Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung như không có tên” [20, tr. Trong bài phát biểu với sinh viên trường đại học sư phạm Hà Nội, Người dạy: “Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau” [ 30, tr. Cho nên Người thường nhấn mạnh: “Học cốt để mà làm, học mà không làm được, học mấy cũng vô ích” [20, tr.

Ở đây ta thấy tầm quan trọng của việc học lý thuyết cần gắn chặt chẽ với thực hành, chỉ khi thực hành những kiến thức đã học mới chỉ ra được cần học lý thuyết nào tiếp theo để hành ngày càng tốt hơn. “…công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái chìa khóa phát triển công việc…” [20, tr. Người còn nhấn mạnh “…cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận.

Làm được như vậy cũng có nghĩa là làm cho lý luận cần được “bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ 22 trong thực tiễn sinh động” [26, tr. Đồng thời, thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận mới. Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, có tới 98 lần nhắc tới “học đi đôi với hành”, “học kết hợp với hành”, “học hành”; 733 lần Người nhắc đến “giáo dục”; 191 lần nhắc đến “đào tạo”; trên 251 lần nhắc đến “trường học”; gần 240 lần nhắc đến “đại học”; hơn 140 lần nhắc đến “giáo sư”, “tiến sĩ”;157 lần nhắc đến “thầy giáo”, “cô giáo”, “giáo viên”; khoảng 180 lần nhắc đến “sinh viên” và 316 lần nhắc đến “học sinh”; có đến 2787 lần nhắc tới “học” và trên 700 lần nhắc tới “học tập”.Ngay trong bức thư nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Người đã viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” [19, tr. Tính tích cực của việc học thể hiện ở chỗ học không chỉ để hiểu biết, không dừng lại ở hiểu biết mà thông qua học tập mỗi người trang bị cho mình kiến thức, kỹ năng cần thiết hình thành nhân cách, năng lực phù hợp với yêu cầu của hoạt động thực tiễn.

Học là quyền lợi, là trách nhiệm của mỗi người dân, Bác viết: “Học” trước hết là quyền lợi và bổn phận của mỗi người dân Việt Nam. Người dạy rằng: “Muốn giữ vững nền độc lập, Muốn làm cho dân mạnh nước giàu, Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ” [19, tr. Vì vậy, học bao giờ cũng gắn với những nhu cầu, mục đích cụ thể nhằm “cải tạo mình, cải tạo tư tưởng của mình, cải tạo con em và giúp vào cải tạo xã hội” [27, tr. Từ nhu cầu, mục đích của việc học đã vạch ra cho mỗi người phương hướng, nội dung, thái độ, phương pháp học tập.

Khi nói về sự cần thiết phải học tập của thanh niên, Người khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nhất định phải có học thức. Cần phải học văn hóa, chính trị, kỹ thuật. Cần phải 23 học lý luận Mác - Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng 46 ngày.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ