TRƯỜNG TRUNG CẤP QUỐC TẾ MEKONG GIÁO TRÌNH MÔN HỌC: TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE NGÀNH: DƯỢC TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP Ban hành kèm theo Quyết định số /2022/QĐ-TCQTMK ngày … tháng … năm 2022 của Hiệu trưởng Trường Trung cấp Quốc tế Mekong Thành phố Cần Thơ, năm 2022 1 TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo. Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm. i LỜI GIỚI THIỆU Để cung cấp kiến thức về phương pháp truyền thông, giáo dục sức khỏe cho sinh viên Dược, và là khối kiến thức quan trọng trong quá trình đào tạo nhân lực Dược, giáo trình được biên soạn với mục đích trang bị kiến thức kiến thức cơ bản về các khái niệm truyền thông, phương pháp truyền thông, cách tư vấn sức khỏe cho người bệnh. Ngoài ra, sinh viên sau khi học có thể hiểu và áp dụng được vào thực tế sau này.
Nội dung giáo trình có những nội dung chính như sau - Đại cương về tâm lý học - Kỹ năng giao tiếp - Tư vấn sức khỏe và lập một kế hoạch truyền thông giáo dục sức khỏe. Giáo trình biên soạn với sự đầu tư và chỉnh chu hết mức có thể, nhưng vẫn khó tránh khỏi những sai sót trong quá trình biên soạn. Nhóm tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các chuyên gia, các đồng nghiệp, các độc giả để giáo trình hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau. Lời cảm ơn của các cơ quan liên quan, các đơn vị và cá nhân đã tham gia.
Cần Thơ, ngày …. năm 2022 Tham gia biên soạn 1. ii MỤC LỤC BÀI 1: ……………………….5 TÀI LIỆU THAM KHẢO.16 iii GIÁO TRÌNH MÔN HỌC Tên môn học: TRUYỀN THÔNG – GIÁO DỤC SỨC KHỎE Mã môn học: MH09 Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học Vị trí: Môn Truyền thông – Giáo dục sức khỏe là môn cơ sở quan trọng giúp ta tăng cường công tác tuyên truyền cho người dân tại cộng đồng về phòng chống bệnh tật giữ gìn sức khỏe. Môn này liên quan đến nhiều môn học trong các phần sau.
Tính chất: Là môn học bắt buộc. Ý nghĩa và vai trò của môn học: là môn học cơ sở cung cấp kiến thức nền tảng cho các môn khác trong khối kiến thức chuyên ngành. Mục tiêu của môn học Về kiến thức: Trình bày được một số khái niệm cơ bản trong truyền thông giáo dục sức khoẻ; Liệt kê và trình bày được nội dung của những kỹ năng giao tiếp. Về kỹ năng: Vận dung được kỹ năng giao tiếp vào chăm sóc sức khoẻ người bệnh; Triển khai được một chương trình truyền thông ra cộng đồng.
Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Nâng cao ý thức về tầm quan trọng của công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ. Nội dung của môn học Thời gian (giờ) Số Tên đơn vị bài học TT Tổng Lý Thực Kiểm số thuyết hành tra 1. Bài 1: Đại cương về tâm lý học 4 4 Bài 2: Hành vi và thay đổi hành vi sức 2. Bài 3: Giao tiếp và kỹ năng giao tiếp 6 6 4.
Bài 4: Tư vấn sức khoẻ 7 6 1 5. Bài 5: Truyền thông giáo dục sức khoẻ 4 4 Bài 6: Lập kế hoạch truyền thông giáo dục 6. 5 4 1 sức khoẻ 3 Thời gian (giờ) Số Tên đơn vị bài học TT Tổng Lý Thực Kiểm số thuyết hành tra Cộng 30 28 0 2 4 BÀI 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ TÂM LÝ HỌC VÀ PHONG CÁCH GIAO TIẾP Giới thiệu: Bài học cung cấp các đặc điểm tâm lý và vận dụng vào phong cách giao tiếp hiệu quả. Mục tiêu: Trình bày được đặc điểm tâm lý và phong cách trong giao tiếp Nội dung chính: 1.
Phong cách giao tiếp- ứng xử và ấn tượng ban đầu 1. Khái niệm phong cách giao tiếp Phong cách giao tiếp là hệ thống phương thức ứng xử ổn định có được của một cá nhân cụ thể với một cá nhân hoặc nhóm người khác trong một hoàn cảnh và một công việc nhất định. Hệ thống phương thức ứng xử ổn định bao gồm: Cử chỉ, lời nói, hành vi. trong mỗi cá nhân, hệ thống phương thức ứng xử chịu sự chi phối của cái chung (loài người), cái đặc thù (cộng đồng), phẩm chất cá nhân (cá tính, học vấn).
Từ đặc điểm trên, cấu trúc của phong cách giao tiếp được tạo bởi: tính chuẩn mực (phần cứng) và tính linh hoạt (phần mềm). Mức độ của hành vi văn minh trong giao tiếp của mỗi người được đánh giá thông qua cấu trúc này. Tính chuẩn mực (phần cứng) biểu hiện ở những quy ước (dưới dạng truyền thống đạo đức, lễ giáo, phong tục tập quán ) - có ảnh hưởng vô hình và lâu dài trong tư duy, hành vi và thói quen của mỗi người; ý thức hệ xã hội (có ảnh hưởng mang tính bắt buộc); cùng với những qui định mang tính đặc thù của tổ chức, doanh nghiệp - nơi mỗi cá nhân làm việc, công tác. Trong giao tiếp chính thức thì các quy ước và quy định đã được thể chế hoá.
Mặt khác nó còn được biểu hiện ở kiểu khí chất trong mỗi cá nhân. Tính linh hoạt dựa trên phẩm chất cá nhân (phần mềm) trong giao tiếp biểu hiện ở trình độ văn hoá, học vấn, kinh nghiệm, trạng thái tâm lý, độ tuổi ở mỗi cá nhân, giới tính và đặc điểm nghề nghiệp. Mỗi người có thể tiến hành giao tiếp và đạt được kết quả như thế nào tùy thuộc vào sự linh hoạt vận dụng những phẩm chất cá nhân đó trong mỗi tình huống và hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Trên thực tế trở ngại lớn nhất trong giao tiếp thường ở phần cứng (đặc biệt giao tiếp với đối tác là người nước ngoài).
Có nghĩa là người ta có thể bị ảnh hưởng quá sâu sắc, hoặc quá chặt chẽ vào những qui định, qui tắc thuộc về phần cứng, do đó hạn chế đến khả năng tiếp cận và thích ứng với người đối thoại. Điều này ở mức độ lớn được gọi là sự xung đột về nền văn minh mà mỗi cá nhân được hưởng thụ và chịu sự chi phối của nó. Tuy nhiên khi phẩm chất cá nhân đạt đến một trình độ cao, người ta càng có khả năng tự chủ, thoát ra khỏi mọi khuôn sáo, giáo điều một cách uyển chuyển linh hoạt. Sự linh hoạt đang chứng tỏ sự thành công của nó trong một thế giới mà các mối quan hệ đang tiến đến gần một chuẩn mực chung.
Khái niệm về ấn tượng ban đầu: Một trong những đặc điểm quan trọng của giao tiếp là ấn tượng ban đầu, hay còn gọi là cảm giác đầu tiên. Ấn tượng ban đầu khi gặp nhau đồng thời người ta vừa nhận xét và đánh giá hoặc là vừa có thiện cảm hay ác cảm ngay từ phút đầu tiên không chờ phải nghiên cứu, khảo sát hay thí nghiệm v. Cấu trúc tâm lý của ấn tượng ban đầu bao gồm: Thành phần cảm tính (chiếm ưu thế): thông qua những dấu hiệu bề ngoài như hình thức, cử chỉ, điệu bộ, trang phục, giọng nói, ánh mắt v. Thành phần lý tính: Gồm những dấu hiệu về phẩm chất cá nhân (tính khí, tính cách, năng lực).
Thành phần xúc cảm: Gồm những dấu hiệu biểu hiện tình cảm (yêu thích, ghét bỏ) tuỳ theo mức hấp dẫn của hình thức bên ngoài. Bản chất của ấn tượng ban đầu chính là thông qua các kênh cảm giác mà cá nhân có được cảm giác và sự tri giác ban đầu về người tiếp xúc với họ. Và vì vậy khi giao tiếp với ai đó, chủ thể cố găng gây được thiện cảm ban đầu với đối tượng, chính nó là cái chìa khoá của thành công trong các giai đoạn tiếp theo. Sự tác động của cảm giác đầu tiên hoặc là: không thích, ác cảm vì người đối thoại có thể có những biểu hiện trái ngược với mĩ cảm của ta (về Chân Thiện Mĩ); hoặc là trùng hợp với mĩ cảm của ta nhưng quá lấn lướt ta (đặc biệt là đối với người cùng phái); hoặc là sự tương phản, không đồng bộ giữa các biểu hiện của họ mà chúng ta cảm nhận thấy (về chất và lượng ở các biểu hiện).
Trường hợp ngược lại là thấy thích và thiện cảm: ở đối tượng này, từ hình thức đến nội dung được họ tiết độ hài hoà theo mức độ tăng dần và không cố nhằm thể hiện mình là ai như thế nào mà để hội nhập với đối tác. Tóm lại điều muôn thủa là phải tạo ra được giá trị của riêng mình, hướng về Chân Thiện Mĩ. Vai trò của ấn tượng ban đầu Trái lại, nếu mình vô tình gây nên ác cảm ban đầu cho đối tượng thì con đường thất bại đã đến một nửa. Trước khi giao tiếp lần đầu với đối tượng khác, mỗi người thường có sự tưởng tượng về đối tượng mà họ sẽ gặp.
Hoặc những cảm nhận sơ bộ khi vừa mới gặp. Sự tưởng tượng và cảm nhận này chịu sự chi phối của các hiệu ứng sau đây: Hiệu ứng "hào quang": Cảm nhận và đánh giá đối tượng giao tiếp theo hình ảnh khuôn mẫu có tính lí tưởng hóa, theo các nghề nghiệp và các kiểu người khác nhau. Cảm nhận này thường hay xuất hiện khi ta tiếp xúc với những người làm việc trong những ngành nghề hay cơ quan, tổ chức có tiếng tăm mà tên tuổi và thành tích của họ đã được khẳng định trong xã hội. Hiệu ứng "đồng nhất": Cảm nhận và đánh giá đối tượng theo cách đồng nhất người đó với bản thân theo kiểu "từ bụng ta suy ra bụng người".
Hoặc đồng nhất họ với số đông trong từng loại nghề nghiệp và kiểu người, kiểu : thầy bói đeo kính. Ví dụ 6 chúng ta có thể cho rằng là thương nhân, nghệ sĩ, là kĩ sư, nhà giáo thường có một số biểu hiện đặc thù trong giao tiếp. Hoặc những người thuộc nhóm tên, tuổi như thế này thường có những đặc tính riêng biệt nhất định. Hiệu ứng "khác giới": Cho rằng đối tượng là người " ngoại đạo " với lĩnh vực, chính kiến hay sự quan tâm của mình, từ đó dẫn đến chuẩn bị tâm thế giao tiếp mang tính hình thức, lịch sự hoặc là chinh phục.
Hiệu ứng "khoảng cách xã hội": Sự ngầm so sánh vị thế, vai trò xã hội, tên tuổi của đối tượng với bản thân mình để chuẩn bị tư thế giao tiếp tự cho là thích hợp.