chương 1: Câu 1: Trình bày khái niệm, vai trò, đặc điểm của xí nghiệp sản xuất? Câu 2: Trình bày khái niệm về doanh nghiệp? phân loại doanh nghiệp? Câu 3: Trình bày khái niệm, đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp nhà nước? Câu 4: Nêu khái niệm, đặc điểm, quyền hạn và nghĩa vụ của doanh nghiệp tư nhân? nêu quy chế và thủ tục thành lập doanh nghiệp tư nhân? Câu 5: Nêu đặc điểm, quyền và nghĩa vụ, cơ cấu quản lý công ty cổ phần? Câu 6: Nêu đặc điểm, quyền và nghĩa vụ, quy chế thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên? Câu 7: Trình bày khái niệm, đặc điểm, cơ cấu tổ chức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên? Câu 8: Trình bày khái niệm, đặc điểm, cơ cấu tổ chức công ty hợp danh? Nêu quyền và nghĩa vụ của các thành viên công ty hợp danh? 21 CHƯƠNG 2: NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA HỆ THỐNG TỔ CHỨC QUẢN LÝ SẢN XUẤT Thời gian: 4 giờ * Mục tiêu - Phân tích được ý nghĩa các nguyên tắc cơ bản của hệ thống tổ chức, quản lý sản xuất. - Trình bày đầy đủ các nguyên tắc cơ bản và mối liên hệ của công tác tổ chức và quản lý sản xuất. - Tuân thủ đúng quy định, quy phạm trong tổ chức sản xuất. * Nội dung chương 2.
Khái niệm về quản lý sản xuất - Quản lý là gì:là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có, nó gồm có 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy. Yêu cầu đối với tổ chức sản xuất - Trang bị đầy đủ bảo hộ lao động đúng quy định của nhà nước. - Đảm bảo đủ ánh sáng, không gian sản xuất đúng quy định.
- Tổ chức sản xuất phải đảm bảo an toàn cho người và thiết bị. - Trang bị đầy đủ các thiết phòng cháy nổ. - Đảm bảo vệ sinh môi trường, phải xử lý các chất thải theo đúng quy định của nhà nước. - Không ngừng nâng cao các yêu cầu phục vụ sản xuất, nâng cao đời sống người lao động, bảo vệ môi trường, bảo vệ trật tự an toàn, an ninh xã hội.
Ý nghĩa các nguyên tắc của hệ thống tổ chức quản lý sản xuất 2. Ý nghĩa - Ý nghĩa của hệ thống tổ chức quản lý sản xuất: Về mặt lý luận và thực tiễn cho thấy hệ thống tổ chức sản xuất hợp lý đem lại ý nghĩa to lớn về nhiều mặt. + Cho phép hoặc góp phần quan trọng vào việc sử dụng có hiệu quả về nguyên, nhiên liệu, thiết bị máy móc và sức lao động trong xí nghiệp. + Góp phần to lớn vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp thực hiện mục tiêu kinh tế tổng hợp của xí nghiệp, tức là làm ăn có lãi.
+ Có tác dụng tốt đối với việc bảo vệ môi trường của các xí nghiệp. + Hoạt động quản lý doanh nghiệp, xí nghiệp là một công tác vô cùng quan trọng. Nhiệm vụ phức tạp của quản lý doanh nghiệp là phải làm cho mọi người lao động hoạt động thống nhất theo mục đích chung, bảo đảm cho quá trình sản xuất, kinh doanh diễn ra đều đặn trên cơ sở sử dụng có hiệu quả các yếu tố vật chất- kỹ thuật. 22 Như vậy, quản lý doanh nghiệp, xí nghiệp là sự tác động của người quản lý vào đối tượng quản lý để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động.
Để quản lý có hiệu quả, doanh nghiệp, xí nghiệp cần coi trọng tăng cường cả hai cấp độ quản lý: Một là: Năng cao hiệu lực quản lý, công tác quản lý phải cụ thể, chặt chẽ, từng bước nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi người đối với cộng việc. Hai là: Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý trong mỗi doanh nghiệp, bộ máy quản lý càng gọn càng tốt, vai trò trách nhiệm rõ ràng, tránh chồng chéo. Trong doanh nghịêp, xí nghiệp Nhà nước, công tác tổ chức quản lý phải thực hiện đúng những nguyên tắc cơ bản của quản lý kinh tế, thực hiện các chức năng quản lý và không ngừng hoàn thiện các biện pháp, công cụ quản lý. Các nguyên tắc của hệ thống tổ chức quản lý sản xuất Để đạt được mục đích trên, doanh nghiệp nhất thiết phải quản lý trước hết là chỉ huy con người, tuy nhiên, công tác quản lý doanh nghiệp cần nắm vững và vận dụng đúng đắn các nguyên tắc sau: 2.
Nguyên tắc quyền chỉ huy ra quyết định (Chế độ một thủ trưởng) Việc chỉ huy tập trung vào một người hay một nhóm người có năng lực và uy tín. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì chủ yếu tập trung vào Giám đốc. Trong trường hợp quản lý theo cơ chế uỷ quyền, phân chia nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý, kiểm tra cũng vẫn phải tôn trọng nguyên tắc một thủ trưởng. Giám đốc là người có quyền quyết định mọi vấn đề.
Nguyên tắc này nhằm mục đích phát huy khả năng lãnh đạo, kịp thời giải quyết vấn đề nảy sinh, đồng thời gắn vai trò trách nhiệm rõ ràng. Tuy nhiên, cần phải hiểu thấu đáo nguyên tắc này, tránh tình trạng chuyên quyền, độc đoán, không coi trọng ý kiến người khác. Nguyên tắc hạch toán kinh doanh Gắn liền với sự vận động của cơ chế thị trường, công tác quản lý kinh doanh cũng phải tuân theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh. Nguyên tắc này đòi hỏi phải sử dụng đầy đủ và đúng đắn mối quan hệ hàng hoá - tiền tệ.
Áp dụng nguyên tắc này, doanh nghiệp phải tính toán tỉ mỉ và hết sức tiết kiệm trong việc chi dùng vật tư, lao động, nhằm hạn chế tới mức thấp nhất chi phí sản xuất. Trước mỗi đợt sản xuất hay kinh doanh, doanh nghiệp phải tính toán tỷ mỷ lượng vốn cần thiết cho mỗi giai đoạn, chủ động về tài chính, sử dụng đủ vốn cần thiết, tránh lãng phí vốn. Nguyên tắc kết hợp thống nhất các lợi ích kinh tế, bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội. Nguyên tắc này thể hiện yêu cầu về sự thống nhất giữa nhiệm vụ kinh tế với chính trị - xã hội, giữa nhiệm vụ trước mắt và lâu dài.
Sự kết hợp này đòi hỏi các doanh nghiệp sau khi hoàn thành nhiệm vụ với nhà nước, doanh nghiệp có điều kiện mở rộng các phúc lợi tập thể, nâng cao thu nhập cho người lao động, tránh tình trạng làm ra đến đâu tiêu hết đến đó, không tích luỹ để đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất. Tổ chức quản lý sản xuất trong doanh nghiệp theo hướng phát triển chuyên môn hóa với phát triển kinh doanh tổng hợp - Chuyên môn hóa là hình thức phân công lao động xã hội nhằm làm cho doanh nghiệp nói chung, các bộ phận sản xuất và nơi làm việc nói riêng chỉ có nhiệm vụ chế tạo một loại sản phẩm chi tiết của sản phẩm hoặc chỉ tiến hành một bước công việc. - Sản xuất chuyên môn hóa là nhân tố quan trọng để nâng cao loại hình sản xuất tạo điều kiện cho công tác tiêu chuẩn hóa, ứng dụng khoa học kỹ thuật, tổ chức mua sắm vật tư, tổ chức lao động khoa học, tổ chức tiêu thụ sản phẩm, và công tác quản trị doanh nghiệp. - Kinh doanh tổng hợp là những hoạt động kinh tế mang tính chất bao hàm nhiều lĩnh vực khác nhau từ sản xuất công nghiệp đến sản xuất phi công nghiệp, từ sản xuất đến lưu thông phân phối và dịch vụ.
Giữa các lĩnh vực này có thể có hoặc không có mối quan hệ với nhau. Chuyên môn hóa và kinh doanh tổng hợp là hai vấn đề khác nhau, nhưng giữa chúng có sự tác động kiềm chế lẫn nhau. Nếu doanh nghiệp, xí nghiệp mở rộng kinh doanh tổng hợp thì chuyên môn hóa bị co hẹp lại. Do đó vấn đề đặt ra là phải khéo léo kết hợp vừa kinh doanh vừa nâng cao trình độ chuyên môn hóa.
Chỉ như thế mới phù hợp với xu hướng hiện nay là mỗi doanh nghiệp vừa thực hiện chuyên môn hóa vừa thực hiện đa dạng hóa sản phẩm. Tổ chức quản lý sản xuất trong mỗi doanh nghiệp, xí nghệp phải đảm bảo tính cân đối Cân đối được coi là một nguyên tắc của tổ chức quản lý sản xuất trong mỗi doanh nghiệp, xí nghiệp. Nó được thể hiện trước hết ở mối quan hệ tỉ lệ thích hợp giữa công suất và thiết bị, máy móc, khả năng lao động, số lượng và chất lượng của nguyên vật liệu đưa vào sản xuất. Mối quan hệ này nằm trong trạng thái động.
Vì vậy nếu một trong những yếu tố thay đổi thì tất yếu phải xác lập lại mối quan hệ tỉ lệ mới nhằm đẩy mạnh sản xuất phát triển với hiệu quả ngày càng cao. Hiện nay tiến bộ khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng và nhờ đó mà tạo ra ngày càng nhiều công nghệ mới đã tạo điều kiện thuận lợi để xác lập và duy trì sản xuất cân đối trong doanh nghiệp. Tổ chức quản lý sản xuất trong doanh nghiệp phải đảm bảo tính nhịp nhàng Sản xuất được coi là nhịp nhàng khi số lượng sản phẩn sản xuất ra trong từng khoản thời gian đã qui định (giờ, ca, ngày, đêm,.) phải bằng nhau. Sự nhịp nhàng trong sản xuất chịu sự tác động của nhiều nhân tố trong mỗi doanh nghiệp, xí nghiệp vì vậy để đảm bảo sản xuất nhịp nhàng thì nó đem lại những tác động rất thiết thực sau: - Thực hiện có hiệu quả các hiệp đồng đã ký kết, bảo đảm việc cung ứng sản phẩm cho nhu cầu của thị trường và xã hội một cách đều đặn.
24 - Khắc phục được trình trạng sản xuất khi thì thong thả cầm chừng, khi thì vội vã khẩn trương, gây nên những lãng phí về sức người, sức của. - Đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ và mối quan hệ hợp tác, liên kết các đơn vị kinh tế khác. Tổ chức quản lý sản xuất trong doanh nghiệp phải đảm bảo tính liên tục Sản xuất hay quá trình sản xuất được coi là liên tục khi bước công việc sau được thực hiện ngay sau bước công việc trước kết thúc, không có bất cứ sự gián đoạn nào về thời gian trong quá trình khai thác hoặc chế tạo sản phẩm. Sản xuất liên tục thể hiện trình độ liên tục của đối tượng lao động.
Vì vậy, việc đảm bảo sản xuất liên tục cần phải áp dụng các biện pháp sau: - Đối với nguyên vật liệu phải đảm bảo cung ứng liên tục hoặc theo đúng thời hạn quy định cho nơi làm việc.