Giáo trình thiết kế đường cầu đường trình độ trung cấp phần 1 - Trường Cao đẳng GTVT Trung ương I

Giáo trình thiết kế đường nghề xây dựng cầu đường trình độ trung cấp phần 1. Tài liệu học tập chính thức của Trường CĐ GTVT Trung ương I.

Chuyên ngành

Thiết Kế Đường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2017

71
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan giáo trình thiết kế đường CĐ GTVT Trung ương I

Giáo trình thiết kế đường của Trường Cao đẳng GTVT Trung ương I là tài liệu học thuật nền tảng, được biên soạn dành riêng cho chương trình đào tạo trình độ trung cấp nghề xây dựng cầu đường. Tài liệu này ra đời nhằm đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cung ứng nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao cho ngành giao thông vận tải. Nội dung giáo trình được xây dựng theo hệ thống mô-đun, tiếp cận theo phương pháp hiện đại, khác biệt so với cách biên soạn truyền thống. Mục tiêu chính là trang bị cho học viên những kiến thức và kỹ năng cốt lõi về thiết kế đường ô tô, từ các khái niệm cơ bản đến các nguyên tắc tính toán chi tiết. Giáo trình không chỉ phục vụ công tác giảng dạy nội bộ mà còn là tài liệu tham khảo giá trị cho các kỹ thuật viên, nhà quản lý đang hoạt động trong lĩnh vực. Trọng tâm của tài liệu là việc áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành, đặc biệt là TCVN 4054-2005, vào thực tiễn thiết kế, đảm bảo các công trình cầu đường trong tương lai đáp ứng được yêu cầu về an toàn, kinh tế và bền vững. Việc nắm vững kiến thức từ giáo trình này là bước khởi đầu quan trọng, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển chuyên môn trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hạ tầng giao thông quốc gia.

1.1. Vai trò của thiết kế đường trong ngành giao thông vận tải

Giao thông vận tải được xem là mạch máu của nền kinh tế quốc dân, kết nối các trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và các khu công nghiệp. Trong đó, đường ô tô giữ một vai trò đặc biệt quan trọng nhờ tính cơ động cao, khả năng vận chuyển trực tiếp không qua trung gian. So với các hình thức khác, đường ô tô đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu ít hơn và có thể tiếp cận những khu vực địa hình hiểm trở. Thiết kế đường chính là khâu khởi đầu, quyết định đến hiệu quả, sự an toàn và tính kinh tế của hoạt động vận tải. Một tuyến đường được thiết kế tốt sẽ đảm bảo xe chạy êm thuận, tốc độ cao, giảm tiêu hao nhiên liệu và chi phí vận hành. Ngược lại, thiết kế không hợp lý có thể dẫn đến tai nạn, ùn tắc và xuống cấp công trình nhanh chóng. Do đó, việc đào tạo và trang bị kiến thức chuyên sâu về thiết kế đường bộ cho các kỹ thuật viên nghề xây dựng cầu đường là nhiệm vụ cấp thiết.

1.2. Cấu trúc và mục tiêu của giáo trình thiết kế đường

Giáo trình được thiết kế theo từng mô-đun chuyên biệt, bám sát chương trình đào tạo hoàn chỉnh cho trình độ trung cấp. Cấu trúc này giúp học viên tiếp thu kiến thức một cách hệ thống, từ tổng quan đến chi tiết. Các chương chính bao gồm giới thiệu chung về đường ô tô, thiết kế bình đồ, thiết kế hình cắt dọc, điều phối đất, thoát nước, và thiết kế mặt đường. Mục tiêu của giáo trình thiết kế đường là giúp người học nắm vững các nguyên tắc cơ bản, hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển động của xe, và quan trọng nhất là có khả năng tính toán, lựa chọn các chỉ tiêu kỹ thuật phù hợp cho từng cấp đường và điều kiện địa hình. Sau khi hoàn thành môn học, học viên phải có khả năng thiết kế các yếu tố hình học cơ bản của tuyến đường, đảm bảo tuân thủ các quy định kỹ thuật và tối ưu hóa hiệu quả đầu tư.

1.3. Các tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng TCVN 4054 2005

Toàn bộ nội dung tính toán và lựa chọn các chỉ tiêu kỹ thuật trong giáo trình đều dựa trên tiêu chuẩn quốc gia TCVN 4054-2005 về Đường ô tô – Yêu cầu thiết kế. Tiêu chuẩn này là cơ sở pháp lý và kỹ thuật quan trọng nhất, quy định chi tiết về việc phân cấp đường, tốc độ thiết kế, các thông số của mặt cắt ngang, bán kính đường cong, độ dốc, và tầm nhìn. Ví dụ, việc phân cấp đường được dựa trên ba tiêu chí: chức năng của tuyến, địa hình và lưu lượng xe thiết kế. Từ đó, tiêu chuẩn quy định các giá trị tốc độ thiết kế tương ứng, chẳng hạn như 120 km/h cho đường cấp I ở địa hình đồng bằng. Việc tuân thủ nghiêm ngặt TCVN 4054-2005 không chỉ đảm bảo tính đồng bộ của mạng lưới giao thông mà còn là yếu tố tiên quyết để đảm bảo an toàn khai thác và tuổi thọ công trình.

II. Thách thức trong thiết kế đường Từ lý thuyết đến thực tế

Công tác thiết kế đường đối mặt với nhiều thách thức phức tạp, đòi hỏi người kỹ sư phải cân bằng giữa các yếu tố kỹ thuật, an toàn và kinh tế. Thách thức cơ bản nhất xuất phát từ sự tương tác phức tạp giữa xe và đường. Chuyển động của ô tô không đơn giản là tịnh tiến mà còn bao gồm chuyển động quay, lượn vòng và dao động. Để xe có thể di chuyển, lực kéo của động cơ phải thắng được một loạt các lực cản. Những lực cản này thay đổi liên tục tùy thuộc vào đặc điểm của tuyến đường như độ dốc, độ cong, và tình trạng mặt đường. Hiểu và tính toán chính xác các lực cản này là nền tảng để xác định các yêu cầu kỹ thuật cho tuyến. Một thách thức lớn khác là việc lựa chọn cấp đường và các chỉ tiêu hình học sao cho phù hợp với chức năng của tuyến và lưu lượng xe trong tương lai. Lựa chọn này ảnh hưởng trực tiếp đến vốn đầu tư xây dựng và chi phí khai thác sau này. Việc thiết kế một tuyến đường không chỉ là vẽ các đường thẳng và đường cong, mà là quá trình giải quyết một bài toán tối ưu hóa đa biến số, trong đó an toàn cho người và phương tiện luôn là ưu tiên hàng đầu. Đây là những nội dung cốt lõi mà giáo trình thiết kế đường của Trường CĐ GTVT Trung ương I tập trung giải quyết.

2.1. Phân tích các lực cản cơ bản tác động đến xe ô tô

Để ô tô chuyển động, lực kéo phải lớn hơn tổng các lực cản. Giáo trình phân tích chi tiết bốn loại lực cản chính. Lực cản lăn (Rr) sinh ra do ma sát và biến dạng giữa lốp xe và mặt đường, được tính bằng công thức Rr = G * f. Lực cản không khí (Rw) phụ thuộc vào hình dạng xe và tốc độ, đặc biệt đáng kể khi xe chạy nhanh. Lực cản leo dốc (Ri) xuất hiện khi xe lên dốc, tính bằng Ri = G * i, trong đó i là độ dốc dọc. Cuối cùng là Lực cản quán tính (Rj) sinh ra khi xe tăng hoặc giảm tốc. Việc hiểu rõ các lực cản này giúp người thiết kế xác định được nhân tố động lực (D), một chỉ số quan trọng thể hiện khả năng kéo của xe trên một đơn vị trọng lượng, từ đó lựa chọn độ dốc dọc tối đa cho phép.

2.2. Yêu cầu về an toàn và kinh tế khi phân cấp đường bộ

Mục tiêu của thiết kế đường là đảm bảo vận chuyển an toàn, thuận lợi và kinh tế. Yếu tố kinh tế thể hiện ở việc tối ưu chi phí xây dựng và chi phí vận hành. Yếu tố an toàn phụ thuộc vào việc lựa chọn các chỉ tiêu hình học phù hợp với tốc độ thiết kế. Theo TCVN 4054-2005, việc phân cấp đường là bước đầu tiên và quan trọng nhất. Đường được phân thành các cấp từ cao tốc đến cấp VI, dựa trên chức năng và lưu lượng xe thiết kế. Ví dụ, đường cấp III yêu cầu lưu lượng > 3000 xcqđ/nđ. Mỗi cấp đường lại có các quy định chặt chẽ về tốc độ thiết kế, chiều rộng làn xe, bán kính cong tối thiểu... Người thiết kế phải cân nhắc kỹ lưỡng để chọn cấp đường hợp lý, tránh lãng phí do đầu tư quá mức hoặc mất an toàn do thiết kế dưới tiêu chuẩn.

III. Hướng dẫn thiết kế bình đồ tuyến đường chuẩn kỹ thuật

Thiết kế bình đồ là việc xác định hình chiếu bằng của tim đường trên bản đồ địa hình. Đây là bước định hình hướng tuyến, quyết định trực tiếp đến chiều dài, khối lượng đào đắp và sự an toàn khi xe chạy. Nội dung chủ yếu của thiết kế bình đồ bao gồm vạch tuyến, thiết kế các đoạn thẳng và đặc biệt là các đoạn đường cong nằm. Khi xe chạy vào đường cong, lực ly tâm xuất hiện, có xu hướng đẩy xe văng ra ngoài, gây nguy cơ lật xe hoặc trượt ngang. Để khắc phục vấn đề này, người thiết kế phải tính toán và bố trí ba yếu tố kỹ thuật quan trọng: bán kính đường cong, độ mở rộng phần xe chạy và siêu cao. Mỗi yếu tố đều được tính toán dựa trên tốc độ thiết kế của tuyến. Một bình đồ được thiết kế tốt phải đảm bảo sự chuyển tiếp êm thuận giữa đoạn thẳng và đoạn cong, cung cấp đủ tầm nhìn cho người lái xe, đồng thời hài hòa với địa hình tự nhiên để giảm thiểu tác động đến môi trường và chi phí xây dựng. Các nguyên tắc này được trình bày chi tiết trong giáo trình thiết kế đường dành cho nghề xây dựng cầu đường.

3.1. Nguyên tắc xác định bán kính đường cong nằm tối thiểu

Bán kính tối thiểu (Rmin) là giới hạn an toàn nhỏ nhất của bán kính đường cong ứng với một tốc độ thiết kế. Việc lựa chọn bán kính càng lớn càng tốt, tuy nhiên do hạn chế về địa hình, đôi khi phải sử dụng bán kính nhỏ. Công thức tính toán dựa trên sự cân bằng của lực ly tâm, trọng lực và lực ma sát ngang: R = V² / 127(μ + isc). Trong đó, V là tốc độ thiết kế (km/h), μ là hệ số lực ngang (thường lấy 0,15), và isc là độ dốc siêu cao. Khi áp dụng độ dốc siêu cao lớn nhất cho phép (isc_max), ta sẽ có được Rmin. Ví dụ, với đường cấp III địa hình đồi núi (Vtk=60km/h), Rmin thường được quy định trong tiêu chuẩn. Việc sử dụng bán kính nhỏ hơn Rmin là không được phép vì sẽ gây mất an toàn.

3.2. Phương pháp bố trí siêu cao và đoạn nối mở rộng hợp lý

Siêu cao là cấu tạo mặt đường dốc một mái nghiêng về phía bụng đường cong, nhằm triệt tiêu một phần lực ly tâm. Độ dốc siêu cao được tính toán dựa trên bán kính và tốc độ, nhưng không vượt quá 8% theo TCVN 4054-2005 để tránh xe chạy chậm bị trượt. Việc chuyển tiếp từ mặt cắt ngang 2 mái trên đường thẳng sang 1 mái trong đường cong được thực hiện trên một đoạn gọi là đoạn nối siêu cao (Lsc). Song song đó, phần xe chạy trong đường cong cũng cần được mở rộng thêm để đảm bảo an toàn, do quỹ đạo của bánh trước và bánh sau không trùng nhau. Độ mở rộng và đoạn nối mở rộng được bố trí trùng với đoạn nối siêu cao, đảm bảo sự thay đổi hình học diễn ra từ từ, giúp xe chạy êm thuận và an toàn.

3.3. Kỹ thuật đảm bảo tầm nhìn trong đường cong hiệu quả

An toàn giao thông đòi hỏi người lái xe phải luôn nhìn thấy phía trước một khoảng cách đủ dài để kịp thời xử lý các tình huống bất ngờ. Khoảng cách này gọi là tầm nhìn. Trong đường cong, tầm nhìn thường bị che khuất bởi các chướng ngại vật ở phía bụng đường cong như taluy đào, nhà cửa, cây cối. Nhiệm vụ của người thiết kế là phải đảm bảo phạm vi tầm nhìn bằng cách giải tỏa các chướng ngại vật này. Chiều dài tầm nhìn yêu cầu (S) phụ thuộc vào tốc độ thiết kế. Khoảng cách cần giải tỏa từ tim đường vào phía trong (Z) được xác định bằng phương pháp giải tích hoặc đồ giải. Công thức tính Z phụ thuộc vào bán kính cong (R) và chiều dài tầm nhìn (S). Đảm bảo tầm nhìn là một yêu cầu bắt buộc trong thiết kế đường.

IV. Phương pháp thiết kế trắc dọc tối ưu cho mọi loại địa hình

Thiết kế trắc dọc (hay hình cắt dọc) là việc xác định cao độ của tim đường, thể hiện hình dáng của tuyến đường theo chiều thẳng đứng. Đây là một công đoạn quan trọng trong thiết kế đường, ảnh hưởng lớn đến khối lượng đào đắp, khả năng thoát nước, và điều kiện vận hành của xe. Nội dung chính của thiết kế trắc dọc bao gồm việc vạch "đường đỏ" (đường thiết kế) trên nền địa hình tự nhiên, lựa chọn độ dốc dọc và thiết kế các đường cong đứng tại các điểm đổi dốc. Một trắc dọc lý tưởng cần bám sát đường đen (đường tự nhiên) để cân bằng khối lượng đào và đắp, giảm chi phí thi công. Đồng thời, độ dốc phải được giới hạn trong phạm vi cho phép của tiêu chuẩn để đảm bảo xe có thể lên xuống dốc an toàn và kinh tế. Các điểm gãy trên đường đỏ phải được làm cong êm thuận bằng các đường cong đứng lồi hoặc lõm. Việc nắm vững các nguyên tắc này giúp tạo ra một tuyến đường hài hòa, an toàn và hiệu quả, như hướng dẫn trong giáo trình thiết kế đường.

4.1. Lựa chọn độ dốc dọc tối đa và tối thiểu theo TCVN

Độ dốc dọc ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ và mức tiêu hao nhiên liệu của xe. Độ dốc dọc lớn nhất (imax) được quy định trong TCVN 4054-2005 cho từng cấp đường và loại địa hình. Ví dụ, đường cấp IV vùng đồng bằng có imax = 6%, nhưng vùng núi có thể lên đến 8%. Việc sử dụng dốc lớn hơn imax sẽ khiến xe tải nặng không thể duy trì tốc độ, gây nguy hiểm. Ngược lại, độ dốc dọc tối thiểu (imin) cũng rất quan trọng, đặc biệt trong các đoạn nền đào. Để đảm bảo thoát nước mặt tốt trong rãnh biên, độ dốc dọc không được nhỏ hơn 0.5%. Trong trường hợp đặc biệt, có thể dùng dốc 0.3% nhưng chiều dài đoạn dốc phải bị hạn chế. Chiều dài của một đoạn dốc cũng được khống chế để tránh làm động cơ quá tải hoặc phanh xe mất tác dụng.

4.2. Cách tính toán bán kính đường cong đứng lồi và lõm

Tại điểm giao của hai đoạn dốc, cần bố trí đường cong đứng để đảm bảo xe chuyển tiếp êm thuận và không bị hạn chế tầm nhìn. Đường cong đứng lồi (đỉnh dốc) được thiết kế dựa trên yêu cầu về tầm nhìn hãm xe. Bán kính tối thiểu của đường cong lồi được tính theo công thức R_lồi ≥ S² / 8d, trong đó S là chiều dài tầm nhìn và d là chiều cao mắt người lái. Đường cong đứng lõm (chân dốc) được thiết kế dựa trên ba điều kiện: lực ly tâm không gây khó chịu cho hành khách, tầm nhìn của đèn pha vào ban đêm và điều kiện thoát nước. Bán kính đường cong đứng lõm tối thiểu thường được xác định để hạn chế gia tốc ly tâm, R_lõm ≥ V² / 6.5. Tiêu chuẩn TCVN 4054-2005 cung cấp các bảng tra giá trị bán kính tối thiểu cho cả hai loại đường cong theo tốc độ thiết kế.

4.3. Phối hợp hài hòa giữa bình đồ và trắc dọc của tuyến

Bình đồtrắc dọc không thể được thiết kế độc lập. Sự phối hợp hài hòa giữa chúng tạo nên một tuyến đường không chỉ an toàn mà còn có tính thẩm mỹ. Một nguyên tắc vàng là "đường cong nằm nên đi đôi với đường cong đứng". Tốt nhất là đường cong đứng nên nằm trọn trong đường cong nằm, và đỉnh của chúng nên trùng nhau hoặc lệch nhau không quá 1/4 chiều dài. Cần tránh bố trí các đường cong nằm có bán kính nhỏ tại vị trí chân dốc của đường cong đứng lõm, vì điều này tạo ra ảo giác tuyến đường bị gãy khúc đột ngột. Tương tự, tránh các đoạn dốc dài và thẳng kết thúc bằng một đường cong nằm bán kính nhỏ. Việc phối hợp tốt giúp người lái xe có cảm nhận tốt hơn về hướng tuyến, từ đó điều khiển phương tiện một cách an toàn và chủ động hơn.

V. Ứng dụng phối hợp tuyến Bí quyết tạo cung đường an toàn

Việc phối hợp các yếu tố tuyến trên bình đồ và trắc dọc là nghệ thuật cao nhất trong thiết kế đường. Một tuyến đường được coi là tốt khi các yếu tố hình học của nó kết hợp với nhau một cách logic, tạo ra một lộ trình liên tục, dễ đoán và an toàn cho người lái ở tốc độ thiết kế. Các nguyên tắc phối hợp không chỉ nhằm đảm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật riêng lẻ mà còn hướng đến chất lượng tổng thể của dòng chảy giao thông. Ví dụ, một đoạn thẳng quá dài có thể gây nhàm chán, buồn ngủ, dẫn đến việc lái xe chủ quan và tăng tốc. Ngay sau đó nếu là một đường cong bán kính nhỏ sẽ cực kỳ nguy hiểm. Do đó, cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các đoạn thẳng và cong. Đặc biệt, khi xử lý các đường cong liền kề hoặc khi đường cong nằm trùng với đoạn dốc lớn, cần có những giải pháp kỹ thuật đặc thù để đảm bảo an toàn. Những bí quyết này được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn và được chuẩn hóa trong giáo trình thiết kế đường cho nghề xây dựng cầu đường.

5.1. Nguyên tắc phối hợp tối ưu giữa đoạn thẳng và đoạn cong

Sự chuyển tiếp giữa đoạn thẳng và đoạn cong cần được thiết kế êm thuận. Với các cấp đường có tốc độ thiết kế từ 60 km/h trở lên, bắt buộc phải bố trí đường cong chuyển tiếp. Đây là đường cong có bán kính thay đổi liên tục, giúp lực ly tâm tăng lên từ từ, tạo điều kiện cho lái xe điều chỉnh tay lái và cho phép thực hiện đoạn nối siêu cao một cách hợp lý. Chiều dài đoạn thẳng không nên quá dài (khuyến cáo không quá 3km) và cũng không nên quá ngắn. Sau một đoạn thẳng dài, cần tránh bố trí đường cong có bán kính tối thiểu. Sự thay đổi đột ngột về hướng tuyến sẽ gây bất ngờ cho người lái, tiềm ẩn nguy cơ tai nạn cao. Một tuyến đường uốn lượn nhẹ nhàng theo địa hình thường an toàn và thẩm mỹ hơn một tuyến gồm các đoạn thẳng dài gãy khúc nối với nhau bằng các đường cong tròn.

5.2. Giải pháp kỹ thuật cho các trường hợp đường cong liền kề

Trong thực tế, đặc biệt là ở vùng núi, thường xuyên xuất hiện các đường cong ngược chiều hoặc cùng chiều nối tiếp nhau. Đối với hai đường cong ngược chiều, phải có một đoạn chêm thẳng đủ dài ở giữa. Chiều dài tối thiểu của đoạn chêm này phải đảm bảo bố trí được hai đoạn nối siêu cao và không nhỏ hơn 2V (với V là tốc độ thiết kế tính bằng km/h). Điều này cần thiết để mặt đường có đủ không gian chuyển từ dốc siêu cao bên này sang dốc siêu cao bên kia. Đối với hai đường cong cùng chiều, nếu đoạn thẳng ở giữa quá ngắn, có thể xem xét thiết kế thành một đường cong lớn duy nhất hoặc một đường cong phức hợp có hai bán kính khác nhau (tỷ số không quá 2) để đảm bảo tính liên tục và an toàn.

5.3. Triết giảm độ dốc dọc trên các đường cong nằm bán kính nhỏ

Khi ô tô chạy trong đường cong, ngoài lực cản leo dốc, nó còn phải chịu thêm lực cản do đường cong. Tổng hợp hai lực cản này có thể vượt quá lực kéo dư của xe, khiến xe bị giảm tốc đột ngột hoặc không thể lên dốc. Để đảm bảo điều kiện vận hành, tiêu chuẩn yêu cầu phải triết giảm độ dốc dọc trong các đường cong nằm có bán kính nhỏ. Mức độ triết giảm phụ thuộc vào bán kính đường cong. Độ dốc sau khi đã triết giảm cộng với độ dốc tương đương do lực cản đường cong không được vượt quá độ dốc dọc lớn nhất cho phép (imax). Đây là một yêu cầu kỹ thuật quan trọng khi thiết kế đường ở vùng đồi núi, nơi có nhiều đường cong và dốc lớn kết hợp.

VI. Kết luận về giáo trình thiết kế đường và triển vọng nghề nghiệp

Giáo trình thiết kế đường của Trường Cao đẳng GTVT Trung ương I là một tài liệu toàn diện, cung cấp các kiến thức khoa học và thực tiễn cần thiết cho người học nghề xây dựng cầu đường. Nội dung giáo trình đã hệ thống hóa các nguyên tắc cốt lõi, từ việc phân tích các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến vận hành xe đến các bước tính toán chi tiết cho bình đồ và trắc dọc. Bằng cách bám sát tiêu chuẩn TCVN 4054-2005, tài liệu đảm bảo rằng các kỹ thuật viên tương lai có một nền tảng vững chắc, có khả năng áp dụng các quy định kỹ thuật vào công việc thực tế. Việc nắm vững kiến thức từ giáo trình không chỉ giúp người học vượt qua các kỳ thi mà còn trang bị cho họ năng lực tư duy thiết kế, khả năng giải quyết các vấn đề kỹ thuật phức tạp trong quá trình xây dựng và phát triển hạ tầng giao thông. Đây là hành trang quan trọng để bước vào một ngành nghề có nhu cầu nhân lực cao và đóng góp trực tiếp vào sự phát triển của đất nước.

6.1. Tóm tắt các kiến thức nền tảng trong thiết kế đường bộ

Kiến thức cốt lõi của thiết kế đường bao gồm ba mảng chính. Thứ nhất là hiểu rõ sự tương tác giữa xe và đường, bao gồm các lực tác dụng và điều kiện động lực học. Thứ hai là khả năng thiết kế các yếu tố hình học trên mặt bằng (thiết kế bình đồ), bao gồm tính toán bán kính, siêu cao, mở rộng và tầm nhìn. Thứ ba là năng lực thiết kế các yếu tố hình học trên mặt cắt đứng (thiết kế trắc dọc), bao gồm lựa chọn độ dốc và tính toán đường cong đứng. Cuối cùng, kỹ năng quan trọng nhất là khả năng phối hợp hài hòa tất cả các yếu tố trên để tạo ra một tuyến đường đồng bộ, an toàn, kinh tế và bền vững. Tất cả đều phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các quy định của tiêu chuẩn ngành.

6.2. Cơ hội phát triển cho kỹ thuật viên xây dựng cầu đường

Với chiến lược phát triển hạ tầng giao thông làm đòn bẩy cho kinh tế, Việt Nam đang và sẽ tiếp tục đầu tư mạnh mẽ vào việc xây dựng mới và nâng cấp mạng lưới đường bộ. Điều này tạo ra nhu cầu rất lớn về nguồn nhân lực kỹ thuật, đặc biệt là các kỹ thuật viên lành nghề trong lĩnh vực xây dựng cầu đường. Người học sau khi tốt nghiệp và nắm vững kiến thức từ giáo trình thiết kế đường sẽ có nhiều cơ hội việc làm tại các công ty tư vấn thiết kế, các đơn vị thi công, các ban quản lý dự án hoặc các cơ quan quản lý nhà nước về giao thông. Với kinh nghiệm và sự học hỏi không ngừng, họ có thể phát triển lên các vị trí cao hơn như chỉ huy trưởng công trường, giám sát trưởng hay chuyên gia thiết kế, đóng góp vào sự thành công của các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia.

30/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I : Giới thiệu chung về đường ô tô Bảng 6Chiều rộng tối thiểu các yếu tố trên mặt cắt ngang cho địa hình đồng bằng và đồi Cấp thiết kế của đường I 0 m IV Vv VI Téc d6 thiét ké, km/h 120 100 80 60 40 30 6 lan xe toi thiéu dành Số lần xe tôithiêu d cho xe cơ giới (làn) 6 4 2 2 2 1 Chiều rộng | lan xe, m 3,75 3,75 3,50 3,50 215 3,50 Chiều rộng phần xe chạy 2x. dành cho cơ giới, m 1124 |?7%750| 790 |9 | 5,50 | 35 Chiều rộng dải phân cách giữa, m 3,00 1,50 0 0 0 0 Chiêu rộng lê và lê gia 3,50 3,00 250 1,00 1,00 cố”,m @00) | (250 @00) | (050) | (0,50) | 1,50 Chiều rộng nền đường, m 32,5 22,5 | 12,00 | 9,00 7,50 | 6,50 Bảng 7 Chiều rộng tối thiểu các bộ phận trên mặt cắt ngang cho địa hình vùng núi Cấp thiết kế của đường - IH IV Vv VI Tốc d6 thiét ké, km/h 60 40 30 20 Số làn xe dành cho :xe cơ giới, làn 2 2 1 1 Chiều rong 1 lần xe, m. 3,00 2,15 3,50 3,50 Chiéu rong pha hay đành:ch fu rone@iger xe chay Qt | xe Co gidi, m ado, 0550 3,50 3,50 hiều rô ¬ ủa lề 1,5 ) 1,0 „ 1,5 „ Chiêu rộng poe của lê (aia od (gia có (gia cổ 125 đường, m 10m) | 0,5m) 1,0m) Chiều Tộng của nền đường, m 9,00 7,50 6,50 6,00 Đ Số trong ngoặc ở hàng này là chiều rộng phần lề có gia có tối thiểu. Khi có thể, nên gia cố toàn bộ chiều rộng lề đường, đặc biệt là khi đường không có đường bên dành cho xe thô sơ.4 Phần xe chạy Phần xe chạy gồm một số nguyên các làn xe.

Con số này nên là số chẵn, trừ trường hợp hai chiều xe có lưu lượng chênh lệch đáng kể hoặc có tổ chức giao thông đặc biệt. Số làn xe trên mặt cắt ngang được xác định tuỳ thuộc cấp đường, đồng thời phải được kiểm tra theo công thức : Ny cdgio thụ Z.Nih 14 ChươngI : Giới thiệu chung về đường ô tô Trong đó :m„ — Số làn xe yêu cầu Noagiờ — Lưu lượng xe thiết kế giờ cao điểm Nin —Nang lực thông hành thực tế, khi không có nghiên cứu tính toán, có thể lấy như sau : Khi có dải phân cách giữa phần xe chạy trái chiều và có dải phân cách bên để phân cách ô tô với xe thô sơ : 1800 xcqđ/h/làn. Khi có đải phân cách giữa phần xe chạy trái chiều và không có dải phân cách bên dé phân cách ôtô với xe thô sơ: 1500 xcqđ/h/làn. Khi không có đải phân cách trái chiều và ô tô chạy chung với xe tho : 1000 xeqd/h/lan.: hệ số sử dụng năng lực thông hành : ` ‘ - ( Vik 80 km/h 1a 0,55.

~ WD Vik= 60 km/h 1a 0,55 cho viing đồng kề ; 0,77 cho ais nui.Các bộ phận cơ bản của đường ˆ 4 z2777//00211027/77/ 2227 1 4 ChiÒu réng wma ER AZ N "` 4.1 Mặt ` Mặt đường lã phan dé cho xe chạy, phần quan trọng nhất của đường gồm một hay nhiều lớp vật liệu được gia cố bằng các vật liệu hạt cứng qua lu lèn tạo thành một kết cầu vững chắc đảm bảo cho xe chạy được an toàn êm thuận và vận tải đạt hiệu quả kinh tế. Các yếu tố cơ bản của mặt đường : Chiều rộng, chiều dày của mặt đường. Độ dốc ngang của mặt đường (in) phụ thuộc vào vật liệu làm mặt đường. Mép mặt đường : đường giáp giữa mặt đường với lề đường.

Ngoài ra trên mặt đường còn có thể có dải phân cách , vạch kẻ sơn để phân cách chiều xe chạy. 15 ChươngI : Giới thiệu chung về đường ô tô 4.2 Nền đường Nền đường là nền tảng của mặt đường, cường độ và độ én dinh cua mat đường phụ thuộc rất nhiều vào cường độ ồn định của nền đường. Trên nền đường gồm có phần mặt đường và lề đường. Lề đường có tác dụng chắn giữ vật liệu của mặt đường, bảo vệ cho mặt đường, là noi dé cho bộ hành đi, tránh xe hoặc đỗ xe.Độ dốc ngang của lề đường thi được quy định phần lề gia cố thì có độ dốc cùng độ dốc của mặt đường , phần lề đất có độ đốc 4% - 6%.

Kết cấu của phần lề gia cố có lớp trên cùng kết cầu với mặt đường. Các yếu tố cơ bản của nền đường bao gồm: Chiều rộng của nền đường: Tính từ đường giới hạn của 2 vai đường - Vai đường ( mép nền đường). Tay luy đường ( độ dốc của mái đường ) được tính bằng ata góc nhị điện hợp bởi mặt phẳng mái đường với mặt nằm ngang.3 Rãnh biên Rãnh biên làm để thoát nước mưa từ mặt đường rn tường và diện tích hai bên dành cho đường. Rãnh biên có tác dụng làm cho nền đường khô ráo.

do đó đảm bảo cường độ nền và mặt đường khi mưa. Rãnh biên cần làm ở cáo đoạn nền đường đào; nửa đào nửa đắp, nền đường dap thấp. { Các yếu tố cơ bản của rãnh biên: Kích thước của rãnh có thể la hinh thang, hinh tam giác( Độ dốc của rãnh. Tiết diện rãnh biên ˆ ` 2) “ R.nh bÊn NÓn ®-êng “SỐ Hình thang S Hinh tam gidc 16 Chương II : Thiết kế bình đồ CHUONG II: THIET KE BINH DO.

Những khái niệm cơ bản 1.1 Bình đồ tuyến Bình đồ là hình chiếu bằng của tuyến đường trên địa hình. Ngoài các yếu tố địa hình biểu diễn chủ yếu bằng các đường đồng mức, tuyến đường xác định nhờ các yếu tô sau: Điểm xuất phát, điểm tới và các điểm chuyền hướng. ở các chỗ chuyên hướng. Chiều dài và góc phương vị các đoạn thẳng.

Các yếu tố của đường cong nằm. Các cọc lý trình : Cọc H (100 m), Cọc Km (1000 m), cọc vi tri công trình cầu, cống.2 Đặc điểm xe chạy trên đường cong Khi chạy trên đường cong xe phải chịu thêm lực ly tâm. Lực này nằm ngang trên mặt phẳng vuông góc với trục chuyền động hướng ra ngoài đường cong. R- bán kính đường cong.

- gia tốc trọng trường (m/sˆ). v- tốc độ xe chay (m/s). Lực ly tâm có tác dụng xấu, có thể gây lật xe, gây trượt ngang, làm cho việc điều khiển xe khó khăn, gây khó chịu cho hành khách, gây hư hỏng cho hàng hoá. Xe chạy trên đường cong do bán kính quỹ đạo các bánh xe khác nhau do vậy xe chạy trên đường cong yêu cầu có bề rộng phần xe chạy lớn hơn.

Xe chạy trên đường cong dễ bị cản trở tầm nhìn, nhất là khi bán kính đường cong nhỏ ở đoạn đường đào vì vậy độ an toàn khi chạy xe giảm do đó dễ gây ra tai nạn.3 Nội dung thiết kế bình đồ Để giải quyết các đặc điểm trên thì nội dung chủ yếu của thiết kế bình đồ bao gồm : 'Vạch tuyến trên bình đồ hay định tuyến ở ngoài thực tế. 17 Chương II : Thiết kế bình đồ Thiết kế mở rộng mặt đường, đoạn nối mở rộng và bố trí mở rong. Thiết kế đảm bảo tầm nhìn.Tính toán các yếu tố kỹ thuật trong đường cong 2.1 Bán kính tối thiểu (R min ) 2.1 Khái niệm Với một vận tốc xe chạy nhất định thì bán kính đường cong càng nhỏ thì xe chạy càng kém an toàn. Do đó trong điêu kiện cho phép thì thiết kê bán kính đường cong càng lớn càng tôt.

Tuy nhiên với điều kiện địa hình bât lợi ta phải thiết kê đường cong có bán kính nhỏ nhưng chỉ được nhỏ đến một giới hạn nào đó đủ đê cho xe chạy có độ an toàn bé nhất. Bán kính đó gọi là bán kính tối thiểu ( "Rmin). Vậy: Ứng với một tóc độ tính toán đối với mỗi cắp đường tấm kính để cho xe chạy với độ an toàn bé nhất gọi là bán kính tối thiểu.2 Công thức tính Xe chạy trong đường cong chịu tác dụng của trọng. lượng G và lực ly tâm C.

phân tích G vàC thành hai thành phần như sau: Lụn ngohi Lụn trong Y=Ccos + Gsin Y=Ccos - Gsin TacÓ:Y € cos Gasin Trong đó: Y - Lực ngang. - tực Jyt tâm. ¬Trộng lượng xe. £ ⁄£ „* Góc mặt đường hợp với đường nằm ngang.

Vì nhỏ sin tg =i, (46 đốc ngang mặt đường); cos 1. 2 2 y & “Gi, Ty y gR G gk Đặt la hé sé luc ngang tức là lực ngang tác dụng trên một đơn vị trọng lượng G của xe. 2 2 Vậy: i, (m) eR” ( in 18 Chương II : Thiết kế bình đồ Trong công thức này, tốc độ tinh theo ms. Nếu chuyển theo thứ nguyên kmh thì Vv công thức có dạng : R ———— 127 in) x ¬ V: + Trường hợp I : Nêu mặt đường thiết kê siêu cao:R.

———————— 127( is) Trong đó: - Hệ số lực ngang ; lấy =0,15 isc- Độ đốc siêu cao; 2% ig, 8% v? Khi ise = isemax thi R= Ruin =) ———— 127( is) eX + Trường hop II: Khi có điều kiện làm bán kính lớn và không. nhiết phải bố trí siêu cao, lúc đó mặt cắt ngang làm hai mai Va ise= - in. Khi đó hệ sốsô lực ngang do muốn cải thiện điều kiện xe chạy nên phải dùng 0,08.3 Lựa chọn hệ số lực ngang ( ). ‹& ‹ Điều kiện về êm thuận và tiện nghỉ với hành khách : Khi chịu tác dụng của lực ly tâm, hành khách cảm thấy khó chịu, nhiềukhi| sợ hãi có cảm giác xe bị lật đồ.

Điều tra theo thực nghiệm cho ta các kết quả§au: ~ Nếu =0,1 thì người ngồi trong xe không cảm giác có cutee cong. Nếu =0,15 thì người trong; xe hoi cam giác có đường cong. Nếu =0,2 thì người trong. Xe cảm giác rõ rệt có đường cong và hơi khó chịu.

Nếu =0,3 người ngôi trong xe có cảm giác như xe bị lật a6. ` Để đảm bảo êm thuận và thoải mái cho hành khách nên chọn 0, 15 và trong điều kiện khó khăn, khi§ hành khách có chuẩn bị cho phép dùng tới 0,25. b) Điều kiện ỗion định chống trượt ngang:) ` Để :. đảm bảo xe không bị trượt ngang hôi đường.

2 <Tực bám giữa bánh xe và mặt đường theo phương ngang. ` — Trọng lượng của Ôtô. A 2 Hệ số bám theo chiều ngang giữa bánh xe và mặt đường. x⁄ Y-Tổng lực ngang tác dụng lên xe.

2 Y hur vay2 G Tacó: ;=(0,6—0,7). Với là hệ sô bám giữa bánh xe với mặt đường Như vậy ta có các điều khiện của như sau: - Mặt đường khô ráo 0,36. - Mặt đường khô, am sạch 0,24. - Mat đường âm có bùn bản 0,12.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ