Giáo trình Thi pháp văn học thiếu nhi - Trường Đại học Hải Phòng

Giáo trình Thi pháp văn học thiếu nhi [tài liệu full] biên soạn theo chương trình đào tạo chuẩn, phù hợp sinh viên ngành hiện nay

Trường đại học

Trường Đại Học Hải Phòng

Chuyên ngành

Giáo Dục Tiểu Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình

2025

103
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Giáo trình Thi pháp Văn học Thiếu nhi

Giáo trình Thi pháp Văn học Thiếu nhi là tài liệu học tập toàn diện được biên soạn bởi Trường Đại học Hải Phòng, dành cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục Tiểu học. Giáo trình này cung cấp kiến thức lý thuyết cơ bản về thi pháp học và ứng dụng trong phân tích văn học thiếu nhi. Tài liệu được chủ biên bởi Vũ Thị Thu Hiền và Bùi Thị Vân Quỳnh, thuộc Khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non. Nội dung giáo trình giúp sinh viên hiểu sâu sắc về các yếu tố thi pháp như quan niệm nghệ thuật, thời gian, không gian, cốt truyện và ngôn từ trong các tác phẩm dành cho trẻ em.

1.1. Đối tượng sử dụng và mục đích

Giáo trình được thiết kế cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu họcgiảng viên tổ Văn-Tiếng Việt. Mục đích chính là trang bị kiến thức thi pháp học nói chung và thi pháp văn học thiếu nhi nói riêng. Sinh viên sẽ vận dụng các kiến thức này để nghiên cứu và phân tích tác phẩm văn học dành cho trẻ em, phát triển kỹ năng phê bình văn học và giảng dạy hiệu quả.

1.2. Yêu cầu học tập

Sinh viên cần chủ động đọc, nghiên cứu giáo trình, tài liệu tham khảo và các tác phẩm văn học được yêu cầu. Cần trao đổi ý kiến trong nhóm học tập, thảo luận với giảng viên để nắm vững kiến thức và vận dụng vào phân tích các tác phẩm văn học thiếu nhi một cách sâu sắc.

II. Cấu trúc và nội dung chính của Giáo trình

Giáo trình Thi pháp Văn học Thiếu nhi được cấu trúc khoa học gồm phần mở đầu, dẫn nhập và năm chương chính. Phần dẫn nhập giới thiệu khái niệm thi pháp, thi pháp họcvăn học thiếu nhi. Năm chương chính tập trung vào các yếu tố cốt lõi của thi pháp: quan niệm nghệ thuật về con người, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật, cốt truyện và ngôn từ nghệ thuật. Mỗi chương đều có phân tích cụ thể các tác phẩm văn học thiếu nhi nổi tiếng của Việt Nam và thế giới, giúp sinh viên hiểu rõ hơn về lý thuyết.

2.1. Năm chương chính của giáo trình

Chương 1 khám phá quan niệm nghệ thuật về con người qua tác phẩm 'Totto-chan' và 'Chuyện con mèo dạy hải âu bay'. Chương 2 phân tích thời gian nghệ thuật trong 'Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ' và 'Truyện cổ tích về loài người'. Chương 3 nghiên cứu không gian nghệ thuật trong các tác phẩm kinh điển. Chương 45 tập trung vào cốt truyệnngôn từ nghệ thuật trong văn học thiếu nhi Việt Nam.

2.2. Tác phẩm phân tích trong giáo trình

Giáo trình phân tích nhiều tác phẩm văn học thiếu nhi nổi tiếng như 'Totto-chan cô bé bên cửa sổ', 'Alice ở xứ sở diệu kì', 'Tôi là Bêtô', 'Chiếc lược ngà', 'Hai đứa trẻ' của Thạch Lam. Các tác phẩm này đến từ các tác giả Việt Nam lẫn thế giới, giúp sinh viên có cái nhìn toàn diện về thi pháp văn học thiếu nhi toàn cầu.

III. Kiến thức cơ bản về Thi pháp và Văn học Thiếu nhi

Thi pháp (Poetics) là khoa học nghiên cứu những cách thức sáng tạo nghệ thuật trong tác phẩm văn học. Thi pháp học khảo sát các yếu tố cấu thành một tác phẩm như nhân vật, cốt truyện, không gian, thời gian và ngôn từ. Văn học thiếu nhi là thể loại văn học được tạo ra đặc biệt dành cho trẻ em, phù hợp với độ tuổi, tâm lý và khả năng tiếp nhận của chúng. Thi pháp văn học thiếu nhi là ngành khoa học phân tích và giải thích cách thức sáng tạo nghệ thuật trong các tác phẩm văn học cho trẻ, có tính đặc thù riêng biệt.

3.1. Định nghĩa Thi pháp và Thi pháp học

Thi pháp là lĩnh vực nghiên cứu các nguyên tắc sáng tạo tác phẩm văn học, tập trung vào cách thức biểu hiệngiá trị thẩm mĩ. Thi pháp học mở rộng hơn, nó là khoa học nghiên cứu toàn diện các yếu tố tạo nên tác phẩm văn học, bao gồm cả bối cảnh sáng táctác động của tác phẩm đối với độc giả.

3.2. Đặc điểm của Văn học Thiếu nhi

Văn học thiếu nhi có những đặc điểm riêng: ngôn từ đơn giản, dễ hiểu; hình ảnh sinh động, gần gũi với trẻ em; nội dung mang tính giáo dụcgiải trí; phát triển tưởng tượng sáng tạo của trẻ. Các tác phẩm này phản ánh thế giới đặc biệt thông qua góc nhìn của trẻ em, giúp chúng nhận thức cuộc sốngphát triển toàn diện.

IV. Hướng dẫn sử dụng và lợi ích của Giáo trình

Để sử dụng giáo trình Thi pháp Văn học Thiếu nhi hiệu quả, sinh viên cần thực hiện từng bước được hướng dẫn trong giáo trình. Trước tiên, đọc kỹ phần mở đầu và các yêu cầu chuẩn bị ở đầu chương để nắm rõ mục tiêu học tập. Sau đó, nghiên cứu lý thuyết trong từng chương, phân tích các ví dụ cụ thể từ các tác phẩm được cung cấp. Sinh viên nên trao đổi thảo luận trong nhóm học tập, trả lời các câu hỏihoàn thành bài tập theo gợi ý. Việc sử dụng giáo trình này giúp sinh viên nâng cao năng lực phân tích, kỹ năng giảng dạyhiểu biết sâu sắc về thi pháp văn học thiếu nhi.

4.1. Phương pháp học tập hiệu quả

Sinh viên nên đọc lại nhiều lần từng chương, ghi chú những điểm quan trọng. So sánh các tác phẩm khác nhau để nhận biết quy luật chung của thi pháp văn học thiếu nhi. Thực hành phân tích các tác phẩm khác không có trong giáo trình để vận dụng kiến thức. Tham khảo tài liệu bổ sung để mở rộng kiến thứcnắm bắt xu hướng mới nhất trong lĩnh vực này.

4.2. Lợi ích của giáo trình

Giáo trình cung cấp kiến thức hệ thống về thi pháp và văn học thiếu nhi, giúp sinh viên phát triển tư duy phê bình. Sinh viên sẽ hiểu rõ hơn về cách thức sáng tạo của các nhà văn thiếu nhi, có khả năng đánh giá chất lượng tác phẩmgiảng dạy văn học cho trẻ em một cách chuyên nghiệp hơn.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1: Quan niệm nghệ thuật về con người là sự nhận biết của nhà văn về con người, cách nhà văn phân tích, lí giải về bản chất của con người. Trong văn học, con người có thể mang bản chất tốt đẹp, mạnh mẽ không gì có thể bẻ gẫy như các vị anh hùng trong sử thi; có thể mang bản chất xấu xa được che đậy; có thể là những sinh thể tuyệt vọng trong một thế giới ngự trị bởi cái ác; có thể là những kiếp sống ngắn ngủi, hữu hạn trong một không gian vũ trụ vĩnh hằng.vv Quan niệm nghệ thuật về con người cũng chính là quan niệm trong hình thức thể hiện con người. Nó là nội dung của hình thức. Điều này có nghĩa là hình ảnh của nhân vật trong tác phẩm mang trong nó sự nhận thức, cảm thụ, lí giải về con người; hoặc có thể nói một cách khác, chính quan niệm về con người đã bộc lộ ra ngoài qua hình hài của nhân vật.

Tên gọi của nhân vật, ngoại hình, hành động, lời nói của nó.vv đều thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người. Quan niệm nghệ thuật về con người cho thấy những nguyên tắc nghệ thuật ở đằng sau chi phối sự miêu tả con người. Những nguyên tắc này thuộc về một chỉnh thể nghệ thuật, nghĩa là chúng có một mối liên kết chặt chẽ, thống nhất với nhau. Ở những kiệt tác văn học, những nguyên tắc này thể hiện rất rõ nét, Truyện Kiều của Nguyễn Du là một ví dụ.

Đọc và nghiên cứu tài liệu [12] trang 87-126, [18] tr31-53 7 2. Đọc các tác phẩm văn học: Dế Mèn phiêu lưu kí (Tô Hoài), Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), Chuyện con mèo dạy hải âu bay (Luis Sepúlveda), Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ (Nguyễn Ngọc Thuần) 1.1 KHÁI NIỆM QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI Con người là nhân tố trung tâm trong tác phẩm văn học, vì vậy mới nói: “Văn học là nhân học”. Bất cứ tác phẩm văn học nào cũng khắc họa hình ảnh của con người với ngoại hình, tính cách, hành động, nội tâm…, được hiện lên với sự đa dạng, không trùng lặp. Trần Đình Sử cho rằng: “Sự cảm nhận, lí giải, giải thích về con người bằng phương tiện nghệ thuật được coi là quan niệm nghệ thuật về con người.”[12] Nói một cách khác, hình ảnh của con người được sáng tạo nên trong tác phẩm văn học sẽ cho thấy nhà văn nhận biết về con người ra sao, sự phân tích, lí giải của anh ta về bản chất của con người như thế nào.

Trong sáng tác của Nam Cao trước 1945 xuất hiện những nhân vật với ngoại hình xấu xí, bẩn thỉu, bị xa lánh, khinh miệt. Loại nhân vật này được một số nhà phê bình, nghiên cứu văn học gọi là kiểu “con vật - người”, họ cho rằng kiểu nhân vật này chịu ảnh hưởng của một cái nhìn “tự nhiên chủ nghĩa”, nhìn nhận con người ở góc độ bản năng, sinh vật. Tuy nhiên, ở góc độ quan niệm nghệ thuật về con người, có thể hiểu những nhân vật này đã thể hiện một cách lí giải, phân tích về con người của nhà văn. Các nhân vật xấu xí của Nam Cao có sự không trùng khớp giữa bề ngoài và bên trong của chúng.

Chí Phèo ( tác phẩm Chí Phèo): Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gờm gờm trông gớm chết!. Cái mặt hắn vàng vàng mà lại muốn xạm màu gio; nó vằn dọc vằn ngang, không thứ tự, biết bao nhiêu là sẹo. Vết những mảnh chai của bao nhiêu lần ăn vạ kêu làng, bao nhiêu lần, hắn nhớ làm sao nổi? Lang Rận (tác phẩm Lang Rận): Anh chàng có cái mặt trông dơ dáng thật. Mặt gì mà nặng trình trịch như mặt người phù, da như da con tằm bủng, lại lấm tấm đầy những tàn nhang.

Cái trán ngắn ngủn, ngắn ngùn, lại gồ lên. Đôi mắt híp lại như mắt lợn sề. Môi rất nở, cong lên, bịt gần kín hai cái lỗ mũi con con, 8 khiến anh ta thở khò khè. Nhưng cũng chưa tệ bằng lúc anh cười.

Bởi vì lúc anh cười thì cái trán chau chau, đôi mắt đã híp lại híp thêm, hai mí gần như dính tịt vào với nhau, môi càng lớn thêm lên, mà tiếng cười, toàn bằng hơi thở, thoát ra kìn kịt. Mặt anh mốc meo lên. Còn quần áo thì gố ghỉnh, mắt thì đầy gỉ, đứng cách ba thước còn ngửi thấy mùi chua, mà rách rưới, mà mất cúc, mà sứt chỉ, mà lôi thôi lếch thếch. Bà Hưng Phú (tác phẩm Sao lại thế này?): Một đứa con gái đét đóng, gầy guộc, đầu bù tóc rối, quần áo lôi thôi, mặt ngơ ngác, da xanh bủng, cả ngày chả nói một câu, mà ăn thì thô tục, thì cắm mặt chẳng lúc nào rời cái bát.

Mới chỉ trông đã ghét!. đã vụng, đã lười, đã ăn không nên đọi, nói chẳng nên lời, mà lại còn có tính gian: thị chúa đời là hay ăn cắp và ăn vụng. Mà ăn vụng như thế nào? Thị bốc trộm gạo sống cho vào túi để ăn dần. Thị hớt cơm chó thật nhiều rồi bớt lại, giấu đi, để ăn cơm với cả nhà rồi lại lấy ra ăn.

Thậm chí đến đổ cám cho lợn ăn mà thị cũng ăn vụng vài bát ở ngay chuồng lợn được. Ghê tởm quá! Ở thế giới bên trong, các nhân vật này không xấu xí, đáng ghê tởm như vẻ bên ngoài. Chí Phèo - con quỷ dữ của làng Vũ Đại chỉ khao khát sống cuộc đời một con người bình thường, lương thiện. Lang Rận có lòng tự trọng, thà chết còn hơn chịu nhục nhã.

Bà Hưng Phú, ở trong một hoàn cảnh sống đầy đủ và được chồng yêu thương, lại lột xác thành một người vợ đầy đủ công, dung, ngôn, hạnh. Bức chân dung xấu xí của các nhân vật ở đây là hình ảnh của họ trong con mắt miệt thị, khinh rẻ của những người xung quanh. Cái xấu đích thực ở đây không phải ngoại hình của con người, mà là cái xấu trong cách nhìn nhận, đánh giá con người, nó mang nặng định kiến, hẹp hòi, nghiệt ngã và thiếu tình thương, sự đồng cảm. Dùng con mắt ấy mà nhìn những người xung quanh thì thấy ai cũng xấu xí, đáng khinh, đáng ghét.

Nhà văn cho rằng: Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi.Toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương. Như vậy, có thể nói các nhân vật 9 này cho thấy một cách nhìn nhận, giải thích về con người mang tính nhân đạo của Nam Cao. Quan niệm nghệ thuật về con người cũng chính là quan niệm trong hình thức thể hiện con người. Nó là nội dung của hình thức.

Điều này có nghĩa là hình ảnh của nhân vật trong tác phẩm mang trong nó sự nhận thức, cảm thụ, lí giải về con người; hoặc có thể nói một cách khác, chính quan niệm về con người đã bộc lộ ra ngoài qua hình hài của nhân vật. Trong sáng tác của F. Kafka, phần lớn các nhân vật của ông không được gọi tên, số ít khác có tên gọi thì thường là tên viết tắt, đến mức chỉ còn lại một con chữ cái (K, A.) Cái tên khước từ vai trò định danh cá nhân vốn có của nó. Cùng với cái tên, nghề nghiệp của các nhân vật cũng hết sức mơ hồ.

Khi tính chất cá nhân riêng biệt của con người trở nên mờ nhạt, con người gần như trở thành một thứ kí hiệu, làm cho người ta không còn nhớ đến, lãng quên nó với tư cách một con người cá biệt. Sự khuyết thiếu của các nhân vật thể hiện sự cảm nhận về con người chỉ như những sinh thể bi đát trong một thế giới tha hóa, trống trải. Quan niệm nghệ thuật về con người cho thấy những nguyên tắc nghệ thuật ở đằng sau chi phối sự miêu tả con người. Những nguyên tắc này thuộc về một chỉnh thể nghệ thuật, nghĩa là chúng có một mối liên kết chặt chẽ, thống nhất với nhau.

Trần Đình Sử, khi nghiên cứu về thi pháp Truyện Kiều đã đưa ra những khám phá đáng chú ý về những nguyên tắc nghệ thuật trong miêu tả con người ở tác phẩm này. Con người được hình dung qua các hiện tượng tự nhiên, vũ trụ. Vẻ đẹp của con người: “làn thu thủy, nét xuân sơn”, “khuôn trăng, nét ngài”; tài năng thì: “nết đất, tính trời”; ý chí anh hùng: “đội trời, đạp đất”; khi khóc người yêu lưu lạc: “vẫy gió, tuôn mưa”; khi đỗ đạt là: “Cửa trời rộng mở đường mây” Cách miêu tả con người xuất phát từ cảm nhận, ý thức văn hóa phương Đông, lấy thiên nhiên làm trung tâm, làm thước đo chuẩn mực. Trong cảm quan của một con người sinh ra ở một đất nước nông nghiệp, Nguyễn Du đã kể về những sự kiện, biến cố trong cuộc đời con người cũng gắn liền với hình ảnh cỏ cây hoa lá, mùa màng.

Nói đến sự hi sinh để cứu cha của nàng Kiều: 10 Thà rằng liều một thân con Hoa dù rã cánh, lá còn xanh cây Kiều nhớ đến việc em gái chắp nối tơ duyên với chàng Kim: Hoa kia đã chắp cành này cho chưa? Tuy nhiên, cũng chỉ có những con người tài hoa, bậc anh hùng mới được khắc họa bằng nét vẽ của thiên nhiên, vũ trụ. Những kẻ tiểu nhân, những quân vô loài thì cách miêu tả lại là bút pháp tả thực, tô đậm vẻ dung tục, trơ trẽn, đáng ghét. Mã Giám Sinh có hành xử của một kẻ vô học: “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”, mụ Tú Bà “lờn lợt màu da”, “to béo đẫy đà”, đến cả ông quan Hồ Tôn Hiến cũng là kẻ “mặt sắt đen sì”. Những nguyên tắc nghệ thuật nói trên có một sự thống nhất, liên kết chặt chẽ, tạo nên chỉnh thể “con người thiên nhiên” trong Truyện Kiều.

Quan niệm nghệ thuật về con người có tính lịch sử và tính cá biệt. Những nguyên tắc tạo dựng, miêu tả con người trong văn học bao giờ cũng dựa trên nền tảng cơ sở là lịch sử, thời đại cụ thể. Như vậy, quan niệm nghệ thuật về con người xét về quy luật xã hội là một sản phẩm của một thời kì lịch sử nào đó, cùng với văn hóa, tư tưởng của thời kì đó. Thời kì nguyên thủy, nhân vật thần trong thần thoại mang trong mình sức mạnh của tự nhiên trong hình hài, vóc dáng của con người.

Thế giới tự nhiên bên ngoài được con người giải thích thông qua sự suy luận chủ quan. Các hiện tượng tự nhiên được khoác lên dáng vẻ của con người, hành động, tính cách của con người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ