CHƯƠNG 1 1. Trình bày bản chất tâm lí người, dựa vào bản chất tâm lí người giải thích sự khác nhau giữa tâm lí của khách du lịch có sự khác nhau về nghề nghiệp (hay những đặc điểm khác như dân tộc, tôn giáo, giới tính, độ tuổi, môi trường sống. Đối tượng, chức năng, nhiệm vụ của tâm lí học. Trình bày các phương pháp nghiên cứu tâm lí, phương pháp nào thường được áp dụng trong việc phân tích, đánh giá những đặc điểm tâm lí cơ bản của khách du lịch? Vì sao? 4.
Hãy phân tích vai trò của việc nghiên cứu tâm lý khách du lịch 10 CHƯƠNG 2: ĐỜI SỐNG TÌNH CẢM Mục tiêu: - Trình bày được khái niệm, các mức độ và các quy luật của đời sống tình cảm. - Phân tích, đánh giá được tầm quan trọng của đời sống tình cảm trong cuộc sống và nghề nghiệp. - Vận dụng được các quy luật của đời sống tình cảm vào hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch - Có thái độ học tập tích cực, nghiêm túc, chủ động. Nội dung chương: Đời sống tình cảm bao hàm những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với các sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan.
Đời sống tình cảm có nhiều mức độ khác nhau, và tồn tại dưới các dạng hiện tượng tâm lí khác nhau, bao hàm cả những quá trình tâm lí (xúc cảm, màu sắc xúc cảm của cảm giác), trạng thái tâm lí (tâm trạng) và thuộc tính tâm lí (tình cảm). Đời sống tình cảm là một nội dung tâm lí quan trọng, gắn bó chặt chẽ với các đặc điểm tâm lí của khách du lịch. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ hài lòng của khách, đến những hành vi tiêu dùng của khách. Do đó việc nghiên cứu về đời sống tình cảm có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu tâm lí khách du lịch.
Khái niệm về đời sống tình cảm 1. Đời sống tình cảm, tình cảm, xúc cảm là gì? Đời sống tình cảm bao hàm tất cả những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với các sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan có liên quan đến nhu cầu và động cơ của con người. Tình cảm và xúc cảm là những mức độ chủ yếu, mang tính phổ biến trong đời sống tình cảm. Như vậy đời sống tình cảm bao hàm cả tình cảm, xúc cảm nó là tất cả những thái độ chứa đựng sự rung cảm của con người.
Mặt khác những thái độ này không chỉ giữa con người với con người mà có thể là thái độ giữa con người với các sự vật hiện tượng khác. Trong thực tế người ta còn đề cập đến cảm xúc, cảm xúc khác với xúc cảm (nó bao hàm cả xúc cảm), cảm xúc chính là các mức độ trong đời sống tình cảm của con người. Cũng như nhận thức, tình cảm và xúc cảm phản ánh hiện thực khách quan cơ bản nhất của con người và mang tính chủ thể sâu sắc. Nhưng so với nhận thức thì tình cảm có những đặc điểm riêng, khác với đặc điểm của hoạt động nhận thức.
Những đặc điểm đó là: - Về nội dung phản ánh: Trong khi nhận thức, chủ yếu phản ánh những thuộc tính và các mối quan hệ của bản thân thế giới thì tình cảm phản ánh mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng với nhu cầu, động cơ của con người. - Về phạm vi phản ánh: Phạm vi phản ánh của tình cảm mang tính lựa chọn, có những sự vật có liên quan đến sự thoả mãn hay không thoả mãn nhu cầu hoặc động cơ của con người mới gây nên tình cảm. Vì thế, phạm vi phản ánh của tình cảm có tính lựa chọn hơn so với nhận thức. - Về phương thức phản ánh: Nhận thức phản ánh thế giới bằng hình ảnh, biểu tượng, khái niệm, còn tình cảm thể hiện thái độ của con người bằng cách rung cảm.
Những đặc điểm đặc trưng của tình cảm - Tính nhận thức: Khi có tình cảm nào đó, con người phải nhận thức được đối tượng và nguyên nhân gây nên tâm lí, những biểu hiện tình cảm của mình. Ba yếu tố nhận thức, rung động và thể hiện cảm xúc tạo nên tình cảm. - Tính xã hội: Tình cảm thực hiện chức năng tỏ thái độ của con người, tình cảm mang tính xã hội, chứ không phải là những phản ứng sinh lí đơn thuần. - Tính khái quát: Tình cảm có được là do tổng hợp hoá, động hình hoá, khái quát hoá những xúc cảm cùng loại.
- Tính ổn định: Tình cảm là thuộc tính tâm lí, là những kết cấu tâm lí ổn định, tiềm tàng của nhân cách, khó hình thành và cũng khó mất đi. - Tính chân thực: Tình cảm phản ánh chân thực nội tâm và thái độ, ngay cả khi con người có che dấu nó bằng “những động tác giả” nguỵ trang. - Tính 2 mặt (đối cực): gắn liền với sự thoả mãn hay không thoả mãn nhu cầu, tình cảm mang tính đối cực: dương tính- âm tính (yêu- ghét, vui- buồn. Các mức độ của đời sống tình cảm 2.
Màu sắc xúc cảm của cảm giác Màu sắc xúc cảm của cảm giác là những sắc thái cảm xúc đi kèm theo quá trình cảm giác nào đó. Đây là mức độ phản ánh cảm xúc đơn giản nhất của con người, nó là những rung động có cường độ rất yếu, tồn tại trong thời gian rất ngắn… thậm chí với những người không nhạy cảm nó rất ít xuất hiện, hoặc chỉ mơ hồ, thoáng qua rất nhanh. Ví dụ: Cảm giác về màu xanh da trời gây cho ta một sắc thái xúc cảm nhè nhẹ, lâng lâng, dễ chịu, cảm giác về màu đỏ gây cho ta một sắc thái rạo rực. Xúc cảm Xúc cảm là một quá trình tâm lí, nó là những rung cảm có cường độ tương đối mạnh, diễn ra nhanh, khi có những sự vật hiện tượng phù hợp tác động đến con người.
Ví dụ: khi có người thân lâu ngày đến chơi, sẽ xuất hiện xúc cảm vui mừng… Xúc cảm có cường độ mạnh hơn, rõ rệt hơn so với màu sắc xúc cảm của cảm giác.Izard “Những cảm xúc của con người” NXB Giáo dục, 1992) con người có 10 xúc cảm nền tảng: hứng thú, hồi hộp, vui sướng, ngạc nhiên, đau khổ, căm giận, ghê tởm, khinh bỉ, khiếp sợ, xấu hổ, tội lỗi. Xúc động là một dạng của xúc cảm, nó là những rung cảm có cường độ rất mạnh, xảy ra trong thời gian ngắn, diễn biến rất nhanh, nhiều trường hợp do xúc động khiến chủ thể không làm chủ được các hành vi của bản thân mình. Tâm trạng Tâm trạng là một trạng thái tâm lí, nó là những rung cảm có cường độ trung bình hoặc yếu, tồn tại trong thời gian tương đối dài, nó đi kèm và làm nền cho các hoạt động tâm lí khác của con người. Như vậy tâm trạng và xúc cảm là hai hiện tượng tâm lí có nhiều đặc điểm khác nhau, tuy nhiên trong thực tế nhiều người chưa phân biệt rõ hai hiện tượng tâm lí này.
Ví dụ: khi nói đến “buồn” chẳng hạn, mọi người đều cho chỉ tồn tại một kiểu “buồn” chung chung. Tuy nhiên xét theo bản chất tâm lí “buồn” theo kiểu xúc cảm khác với “buồn” theo kiểu tâm trạng. Buồn theo kiểu xúc cảm xuất hiện khi có sự vật hiện tượng tác động tới con người, nó tồn tại trong thời gian ngắn hơn và dễ thay đổi hơn so với buồn theo kiểu tâm trạng. Có thể phân biệt tâm trạng và xúc cảm qua những điểm khác biệt sau: Xúc cảm Tâm trạng - Là một quá trình tâm lí - Là một trạng thái tâm lí 12 - Thường có cường độ mạnh - Thường có cường độ yếu, trung bình - Xuất hiện khi có sự vật hiện tượng thích - Nguyên nhân gây ra tâm trạng không rõ hợp tác động tới con người ràng - Thường tồn tại trong thời gian ngắn, dễ - Tồn tại trong thời gian tương đối dài, nó thay đổi theo sự tác động bên ngoài thường đi kèm và làm nền cho các hiện tượng tâm lí khác.
Tâm trạng còn có hai dạng đặc biệt khác, đó là say mê và stress. Say mê cũng là một trạng thái tâm lí, nó là một trạng thái tình cảm có cường độ mạnh, sâu sắc và bền vững. Stress (trạng thái thần kinh căng thẳng) là một trạng thái căng thẳng về cảm xúc và trí tuệ khi con người chịu một sức ép nặng nề, liên tục về thể xác và tinh thần, vượt qua ngưỡng chịu đựng của họ. Tình cảm Tình cảm là một thuộc tính tâm lí ổn định, bền vững của nhân cách nói lên thái độ của cá nhân.
Với tư cách là một thuộc tính tâm lí ổn định, tiềm tàng của nhân cách, tình cảm mang đậm màu sắc chủ thể, tình cảm được hình thành và thể hiện qua các xúc cảm theo những quy luật đặc trưng của nó. Người ta thường nó đến hai nhóm tình cảm: - Tình cảm cấp thấp: là những tình cảm có liên quan đến sự thoả mãn hoặc không thoả mãn nhu cầu của cơ thể. - Tình cảm cấp cao: mang tính xã hội rõ ràng hơn, tình cảm cấp cao thường được chia thành các loại sau: + Tình cảm đạo đức: biểu thị thái độ của con người đối với các vấn đề đạo đức trong xã hội, trong quan hệ con người với con người, với cộng đồng, với xã hội (như tình mẹ con, bầu bạn, anh em, tình yêu nam nữ, tình cảm nhóm xã hội) + Tình cảm trí tuệ: tính ham hiểu biết, óc hoài nghi khoa học, nhạy cảm với cái mới. + Tình cảm thẩm mỹ: Thể hiện thái độ rung cảm với cái đẹp.
+ Tình cảm mang tính chất thế giới quan: Tinh thần yêu nước, tinh thần quốc tế. Ngoài ra với tư cách là một thuộc tính tâm lí ổn định tiềm tàng của nhân cách, tình cảm mang đậm mầu sắc chủ thể, tình cảm được hình thành và thể hiện qua các xúc cảm theo những quy luật đặc trưng của nó. Tuy nhiên tình cảm và xúc cảm có những điểm khác nhau: Xúc cảm Tình cảm - Có ở người và động vật - Chỉ có ở con người - Có trước - Có sau - Là một quá trình hay trạng thái tâm lí - Là thuộc tính tâm lí - Có tính nhất thời, biến đổi phụ thuộc vào - Có tính ổn định lâu dài. Các quy luật của đời sống tình cảm 3.
Quy luật lây lan Do đặc tính xã hội của tình cảm, nên tình cảm, xúc cảm, tâm trạng (gọi chung là cảm xúc) có thể lây lan từ người này sang người khác. 13 Trong mối quan hệ tình cảm giữa con người với nhau những hiện tượng “vui lây”, buồn lây, đồng cảm, cảm thông giữa người này với người khác chính là hiện tượng lây lan tình cảm.