mở đầu và kết thúc không rõ ràng, thƣờng ít biến động nhƣng lại chi phối một cách căn bản các quá trình tâm lí đi kèm với nó. Ví dụ: chú ý, tâm trạng, sự ganh đua… Các thuộc tính tâm lí là những hiện tƣợng tâm lí tƣơng đối ổn định, khó hình thành và khó mất đi, tạo thành nét riêng của nhân cách. Ví dụ: tính nết, thói quen, hứng thú, lí tƣởng sống… Mối quan hệ giữa các hiện tƣợng tâm lí ngƣời đƣợc biểu diễn bằng sơ đồ sau : 21 Sơ đồ 1: Mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lí người Tóm lại, thế giới tâm lí của con ngƣời vô cùng phong phú, đa dạng và phức tạp. Các hiện tƣợng tâm lí của con ngƣời có nhiều mức độ, cấp độ khác nhau, có quan hệ biện chứng với nhau.
Phƣơng pháp nghiên cứu tâm lí 6. Nguyên tắc phương pháp luận của việc nghiên cứu tâm lí 6. Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng Nguyên tắc này khẳng định, các hiện tƣợng tâm lí ngƣời có nguồn gốc là thế giới khách quan tác động vào bộ não thông qua “lăng kính chủ quan” của mỗi ngƣời và mang bản chất xã hội - lịch sử. Nguyên tắc này không phủ nhận vai trò điều kiện của các yếu tố sinh học (tƣ chất, hoạt động thần kinh cấp cao …) và khẳng định vai trò quyết định trực tiếp của hoạt động chủ thể.
Vì vậy, khi nghiên cứu các hiện tƣợng tâm lí ngƣời, cần thấm nhuần nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng. Nguyên tắc thống nhất tâm lí, ý thức với hoạt động Nguyên tắc này khẳng định tâm lí, ý thức không tách rời khỏi hoạt động, tâm lí đƣợc hình thành, bộc lộ và phát triển trong hoạt động, đồng thời điều khiển, điều chỉnh hoạt động. Vì vậy, khi nghiên cứu tâm lí phải thông qua hoạt động, diễn biến và các sản phẩm của hoạt động. Nghiên cứu các hiện tượng tâm lí trong sự liên hệ giữa chúng với nhau và trong mối liên hệ giữa chúng với các hiện tượng khác Các hiện tƣợng tâm lí ngƣời không tồn tại một cách biệt lập mà có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, chuyển hoá lẫn nhau đồng thời chúng còn chi phối và chịu sự chi phối của các hiện tƣợng khác.
Vì vậy, khi nghiên cứu hiện tƣợng tâm lí ngƣời cần đặt chúng trong mối liên hệ và quan hệ với các hiện tƣợng tâm lí khác trong nhân cách và giữa 22 hiện tƣợng tâm lí với các hiện tƣợng khác nhằm chỉ ra những ảnh hƣởng lẫn nhau, các quan hệ phụ thuộc nhân quả, những quy luật tác động qua lại giữa chúng. Nghiên cứu các hiện tượng tâm lí trong sự vận động và phát triển Các hiện tƣợng tâm lí luôn có sự nảy sinh, vận động và phát triển. Sự phát triển các hiện tƣợng tâm lí là quá trình liên tục tạo ra các nét tâm lí mới, đặc trƣng cho các giai đoạn phát triển tâm lí nhất định. Vì vậy, khi nghiên cứu tâm lí phải thấy sự biến đổi chứ không cố định, bất biến và chỉ ra những nét tâm lí mới đặc trƣng cho mỗi giai đoạn phát triển tâm lí.
Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan Đảm bảo tính khách quan trong nghiên cứu các hiện tƣợng tâm lí là phải lấy chính các hiện tƣợng tâm lí làm đối tƣợng nghiên cứu. Nghiên cứu các hiện tƣợng tâm lí trong trạng thái tồn tại tự nhiên của nó, đảm bảo tính trung thực, không tự ý thêm bớt trong quá trình nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu tâm lí 6. Phương pháp quan sát Quan sát là theo dõi, thu thập hành động và hoạt động của đối tƣợng trong điều kiện tự nhiên để phán đoán, nhận xét về yếu tố tâm lí đã chi phối chúng, từ đó rút ra các quy luật, cơ chế của chúng.
Phƣơng pháp quan sát cho phép chúng ta thu thập đƣợc các tài liệu cụ thể, khách quan trong các điều kiện tự nhiên của con ngƣời song phƣơng pháp này cũng tốn nhiều công sức, mất nhiều thời gian và mang tính bị động. Để phƣơng pháp quan sát đạt hiệu quả cao, cần chú ý các yêu cầu sau: - Xác định mục đích, nội dung, kế hoạch quan sát. - Chuẩn bị chu đáo về mọi mặt. - Tiến hành quan sát cẩn thận và có hệ thống.
- Ghi chép tài liệu quan sát một cách khách quan, trung thực. Phương pháp thực nghiệm Thực nghiệm là phƣơng pháp nghiên cứu chủ động gây ra các hiện tƣợng tâm lí cần nghiên cứu sau khi đã tạo ra các điều kiện cần thiết và loại trừ các yếu tố ngẫu nghiên. Phƣơng pháp thực nghiệm có nhiều loại, bao gồm thực nghiệm tự nhiên và thực nghiệm trong phòng thí nghiệm. 23 Thực nghiệm tự nhiên: là loại thực nghiệm đƣợc tiến hành trong điều kiện bình thƣờng của cuộc sống và hoạt động.
Trong thực nghiệm tự nhiên có bao hàm cả quan sát. Nếu trong quan sát, nhà nghiên cứu chỉ thay đổi những yếu tố riêng rẽ của hoàn cảnh còn trong thực nghiệm tự nhiên nhà nghiên cứu có thể chủ động gây ra những biểu hiện và diễn biến tâm lí bằng cách khống chế một số nhân tố không cần thiết cho việc nghiên cứu, làm nổi bật những yếu tố cần thiết trong hoàn cảnh, giúp cho việc khai thác, tìm hiểu các hiện tƣợng tâm lí cần nghiên cứu bằng thực nghiệm. Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm: là loại thực nghiệm đƣợc tiến hành trong phòng thí nghiệm ở điều kiện khống chế một cách nghiêm khắc các ảnh hƣởng bên ngoài tác động đến hiện tƣợng tâm lí đƣợc nghiên cứu. Loại thực nghiệm này thƣờng đƣợc sử dụng nhiều để nghiên cứu các quá trình tâm lí, ít dùng để nghiên cứu các thuộc tính tâm lí ngƣời và, đặc biệt, mang tính chủ động cao hơn thực nghiệm tự nhiên.
Thực nghiệm nghiên cứu tâm lí có thể bao gồm thực nghiệm điều tra và thực nghiệm hình thành. Thực nghiệm điều tra: là loại thực nghiệm nhằm dựng nên một bức tranh về thực trạng hiện tƣợng tâm lí đƣợc nghiên cứu ở một thời điểm cụ thể. Thực nghiệm hình thành (thực nghiệm giáo dục): là loại thực nghiệm nhằm khẳng định ảnh hƣởng của tác động giáo dục đến sự hình thành, phát triển hiện tƣợng tâm lí nào đó ở con ngƣời. Thực nghiệm hình thành thƣờng gồm ba giai đoạn: đầu tiên là đo hiện trạng hiện tƣợng tâm lí trƣớc thực nghiệm, sau đó thiết kế các biện pháp tác động giáo dục mới và áp dụng vào trong thực tiễn.
Sau một thời gian tác động, đo lại sự biến đổi của hiện tƣợng tâm lí, từ đó khẳng định vai trò, ảnh hƣởng, mối quan hệ của biện pháp tác động giáo dục đó đến sự hình thành và phát triển của hiện tƣợng tâm lí cần nghiên cứu. Thực nghiệm tâm lí dù là loại hình thức thực nghiệm nào cũng khó có thể khống chế hoàn toàn ảnh hƣởng của các yếu tố chủ quan của ngƣời bị thực nghiệm. Vì vậy, khi sử dụng phƣơng pháp thực nghiệm trong nghiên cứu tâm lí, cần chú ý tạo ra trạng thái tự nhiên và có sự kết hợp giữa phƣơng pháp thực nghiệm với các phƣơng pháp nghiên cứu tâm lí khác. Phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi Khảo sát bằng phiếu hỏi là phƣơng pháp nghiên cứu tâm lí sử dụng phiếu trƣng cầu ý kiến với một hệ thống câu hỏi đã đƣợc soạn sẵn nhằm thu thập những thông tin cần thiết về hiện tƣợng tâm lí cần nghiên cứu.
Nội dung chính của phiếu hỏi là các câu hỏi. Câu hỏi trong phiếu hỏi gồm câu hỏi đóng - loại câu hỏi có nhiều đáp án để lựa chọn và câu hỏi mở - loại câu hỏi không có đáp án lựa chọn mà cá nhân tự trả lời. Ƣu điểm của phƣơng pháp khảo sát bằng phiếu hỏi là trong một thời gian ngắn cho phép thu thập thông tin nhanh của nhiều cá nhân trên một địa bàn rộng, mang tính chủ động cao. Hạn chế của phƣơng pháp này là nhiều khi kết quả trả lời không đảm bảo tính khách quan vì đánh giá hiện tƣợng tâm lí theo câu trả lời của cá nhân dễ xảy ra hiện tƣợng nghĩ một đằng, nói một nẻo.
Phương pháp trắc nghiệm (Test) Trắc nghiệm tâm lí là một công cụ đã đƣợc tiêu chuẩn hóa dùng để đo lƣờng một cách khách quan một hay một số mặt tâm lí, nhân cách thông qua những mẫu câu trả lời bằng ngôn ngữ, phi ngôn ngữ hoặc bằng các hành vi khác. Tiêu chuẩn của một trắc nghiệm tâm lí gồm: - Có độ tin cậy cao: Kết quả đo bằng trắc nghiệm cùng một nghiệm thể, đối tƣợng ở nhiều lần đo khác nhau đều cho kết quả giống nhau. - Có tính hiệu lực (ứng nghiệm): Trắc nghiệm phải đo đƣợc chính hiện tƣợng tâm lí cần đo, đúng với mục đích của trắc nghiệm. - Cách thức tiến hành và xử lí kết quả phải theo một tiêu chuẩn xác định và có quy chuẩn theo một nhóm chuẩn.
Test trọn bộ thƣờng gồm bốn phần: văn bản Test, hƣớng dẫn quy trình tiến hành, hƣớng dẫn đánh giá và bảng chuẩn hoá. Sử dụng phƣơng pháp trắc nghiệm có một số ƣu điểm cơ bản là tính chất ngắn gọn, tính tiêu chuẩn hóa, đơn giản về thiết bị và kĩ thuật, định lƣợng đƣợc kết quả nghiên cứu. Tuy nhiên, sử dụng phƣơng pháp trắc nghiệm cũng có những khó khăn, hạn chế: - Khó soạn thảo một bộ test đảm bảo tính chuẩn hoá. - Trắc nghiệm chỉ quan tâm đến kết quả thống kê cuối cùng, không chú ý đến quá trình dẫn đến kết quả.
- Không tính đến các nhân tố đa dạng có thể ảnh hƣởng đến kết quả trắc nghiệm. 25 Phƣơng pháp trắc nghiệm chỉ đƣợc xem là công cụ chẩn đoán tâm lí ở một thời điểm phát triển nhất định của con ngƣời. Để chẩn đoán tâm lí nhân cách của con ngƣời, cần sử dụng kết hợp với các phƣơng pháp nghiên cứu tâm lí khác. Phương pháp đàm thoại Đàm thoại (phỏng vấn) là cách thức thu thập thông tin về hiện tƣợng tâm lí đƣợc nghiên cứu dựa vào các nguồn thông tin thu thập đƣợc trong quá trình trò chuyện.
Nguồn thông tin có thể bao gồm các câu trả lời và các yếu tố hành vi nhƣ cử chỉ, ngôn ngữ của ngƣời trả lời. Phƣơng pháp phỏng vấn có thể bao gồm nhiều hình thức nhƣ trực tiếp hay gián tiếp, phỏng vấn cá nhân hoặc nhóm, có thể hỏi thẳng hay hỏi đƣờng vòng. Để phƣơng pháp đàm thoại thu đƣợc kết quả tốt, ngƣời nghiên cứu cần lƣu ý các vấn đề sau: - Xác định rõ mục đích, yêu cầu của vấn đề cần tìm hiểu. - Tìm hiểu trƣớc thông tin về đối tƣợng trò chuyện.
- Có kế hoạch trƣớc để lái hướng câu chuyện.