Giáo trình sản khoa nghề dịch vụ thú y trung cấp trường cao đẳng cộng đồng đồng tháp

Giáo trình sản khoa nghề dịch vụ thú y trung cấp tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp cung cấp kiến thức chuyên sâu và thực tiễn.

Chuyên ngành

Dịch Vụ Thú Y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình

2017

51
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI GIỚI THIỆU

1. CHƯƠNG 1: BỆNH DỊ TẬT BẨM SINH TRÊN ĐƯỜNG SINH DỤC

1.1. Bệnh dị tật bẩm sinh trên đường sinh dục thú cái

1.2. Dị tật buồng trứng

1.3. Dị tật ống dẫn trứng

1.4. Dị tật tử cung

1.5. Dị tật ở âm hộ và âm đạo

1.6. Bệnh dị tật bẩm sinh trên đường sinh dục thú đực

1.7. Dịch hoàn ẩn

1.8. Dịch hoàn phát triển bất thường

1.9. Bệnh nửa đực nửa cái

1.10. Bệnh ở dương vật

2. CHƯƠNG 2: BỆNH TRÊN THÚ CÁI TRONG THỜI KỲ MANG THAI

2.1. Bệnh bại liệt trước khi sinh

2.2. Biện pháp phòng và trị

2.3. Bệnh sa âm đạo

2.4. Sa âm đạo một phần

2.5. Sa âm đạo toàn phần

2.6. Điều trị: Theo nguyên tắc

2.7. Các bước tiến hành

2.8. Các chứng rối loạn về sản khoa trên thú cái ở giai đoạn cuối thời kỳ mang thai

2.9. Chứng xuất huyết âm đạo (thường gặp cuối thai kỳ)

2.10. Cơn co tử cung sớm

3. CHƯƠNG 3: BỆNH SINH SẢN TRÊN THÚ CÁI TRONG THỜI KỲ SINH SẢN

4. CHƯƠNG 4: BỆNH SINH SẢN TRÊN THÚ CÁI SAU THỜI KỲ SINH SẢN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Giáo Trình Sản Khoa Dịch Vụ Thú Y Trung Cấp

Giáo trình Sản Khoa Dịch Vụ Thú Y Trung Cấp là tài liệu quan trọng trong việc đào tạo nghề thú y. Nó cung cấp kiến thức cơ bản và chuyên sâu về các vấn đề liên quan đến sinh sản của gia súc và gia cầm. Chương trình này được thiết kế để giúp sinh viên nắm vững các kỹ năng cần thiết trong ngành thú y, từ lý thuyết đến thực hành.

1.1. Mục tiêu của Giáo Trình Sản Khoa

Giáo trình nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về sản khoa, giúp họ hiểu rõ các nguyên nhân gây vô sinh và các bệnh lý liên quan đến thú cái trong thời kỳ mang thai.

1.2. Cấu trúc của Giáo Trình

Giáo trình được chia thành 4 chương, mỗi chương tập trung vào các khía cạnh khác nhau của sản khoa, từ bệnh dị tật bẩm sinh đến các bệnh trong thời kỳ mang thai và sinh sản.

II. Vấn đề và Thách thức trong Giáo Trình Sản Khoa Thú Y

Trong quá trình đào tạo, nhiều thách thức xuất hiện, bao gồm việc cập nhật kiến thức mới và áp dụng công nghệ hiện đại vào giảng dạy. Các giảng viên cần phải liên tục cải tiến phương pháp giảng dạy để đáp ứng nhu cầu của sinh viên và thị trường lao động.

2.1. Thách thức trong việc cập nhật kiến thức

Ngành thú y luôn thay đổi với những tiến bộ mới trong khoa học và công nghệ. Việc cập nhật kiến thức cho giáo trình là rất cần thiết để sinh viên có thể áp dụng vào thực tiễn.

2.2. Khó khăn trong việc giảng dạy thực hành

Việc thiếu cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại có thể ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo thực hành cho sinh viên trong ngành thú y.

III. Phương pháp Giảng dạy Hiệu quả trong Giáo Trình Sản Khoa

Để nâng cao chất lượng đào tạo, các phương pháp giảng dạy cần được cải tiến. Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành là rất quan trọng trong giáo trình Sản Khoa Dịch Vụ Thú Y.

3.1. Phương pháp giảng dạy tích cực

Sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực như thảo luận nhóm, thực hành tại chỗ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về kiến thức và kỹ năng cần thiết trong ngành thú y.

3.2. Ứng dụng công nghệ trong giảng dạy

Việc sử dụng công nghệ thông tin và các phần mềm mô phỏng trong giảng dạy giúp sinh viên tiếp cận kiến thức một cách dễ dàng và hiệu quả hơn.

IV. Ứng dụng Thực tiễn của Giáo Trình Sản Khoa Thú Y

Giáo trình Sản Khoa không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết mà còn giúp sinh viên áp dụng vào thực tiễn. Các kỹ năng được học sẽ giúp sinh viên giải quyết các vấn đề trong chăn nuôi và chăm sóc thú y.

4.1. Kỹ năng chăm sóc thú cưng

Sinh viên sẽ học được cách chăm sóc và điều trị cho thú cưng, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cho chúng.

4.2. Giải quyết các vấn đề sinh sản

Giáo trình giúp sinh viên nắm vững các biện pháp phòng ngừa và điều trị các bệnh lý liên quan đến sinh sản trên gia súc và gia cầm.

V. Kết luận và Tương lai của Giáo Trình Sản Khoa Dịch Vụ Thú Y

Giáo trình Sản Khoa Dịch Vụ Thú Y Trung Cấp đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cho ngành thú y. Tương lai của giáo trình cần tiếp tục được cải tiến để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

5.1. Định hướng phát triển giáo trình

Cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp để cập nhật và cải tiến giáo trình theo nhu cầu thực tế.

5.2. Tầm quan trọng của giáo trình trong ngành thú y

Giáo trình không chỉ là tài liệu học tập mà còn là cẩm nang cho những người làm trong ngành thú y, giúp họ nâng cao kiến thức và kỹ năng.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 BỆNH DỊ TẬT BẨM SINH TRÊN ĐƯỜNG SINH DỤC MH27- 01 Giới thiệu: Nội dung chương cung cấp cho người học các kiến thức về bệnh dị tật bẩm sinh. Mục tiêu: - Kiến thức: Hiểu các nguyên nhân gây vô sinh trên gia súc, gia cầm. - Kỹ năng: Phân biệt được các bệnh do dị tật bẩm sinh trên gia súc gia cầm - Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Tự tin, có trách nhiệm với công việc, có khả năng tự học. Bệnh dị tật bẩm sinh trên đường sinh dục thú cái 1.

Dị tật buồng trứng Những dị tật bẩm sinh thường thấy trên buồng trứng như: có một buồng trứng, buồng trứng kém hoặc không phát triển, nằm sai vị trí, lớp tế bào mầm không bình thường ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của buồng trứng, có thể xuất hiện những nang hay những mô bào sinh dục đực. Trekaxova, kiểm tra 575 heo cái vô sinh nhận thấy có 2,8% là heo lưỡng tính. Nguyễn văn Thành (1982) khảo sát 14100 heo cái tại Vissan, ghi nhận có 2,2% heo lưỡng tính. Các bệnh ở buồng trứng được trình bày ở Bảng 1.1: Tỷ lệ các bệnh ở buồng trứng Bệnh Số mẫu khảo sát Tỷ lệ (%) U nang 175 46,18 Teo 162 42,74 Lưu hòang thể 12 3,16 Buồng trứng sai vị trí 30 7,92 Tổng 379 100 Nguyên nhân dị tật cơ quan sinh dục thú cái được nhiều tác giả nghiên cứu như: Poliansep và Taritrenko (1969) cho rằng trường hợp dị dạng xảy ra trong thời kỳ thai nhi với những biến đổi về cấu trúc giải phẩu, gây ảnh hưởng đến chức năng sinh sản của buồng trứng là do nội tiết tố.

Bệnh buồng trứng teo chiếm tỷ lệ 1 cao trong các trường hợp vô sinh. Chiristenson và Ford (1979) ghi nhận heo cái đến tuổi thành thục nhưng không rụng trứng chiếm tỷ lệ 45% trong các trường hợp chậm động dục. Eliason và Selling (1991) heo cái động dục nhưng không xuất noãn chiếm 20%. Dị tật ống dẫn trứng Dị tật này thường thấy trong thời gian phát triển của bào thai như ống dẫn trứng không phát triển một hoặc cả hai bên (heo, bò, ngựa), ống dẫn trứng luôn co thắt… 1.

Dị tật tử cung Các trường hợp dị tật tử cung thường gặp là: tử cung một sừng, hai thân tử cung, cổ tử cung luôn co thắt, tử cung kém phát triển, không cổ tử cung do sinh đôi một đực và một cái trên bò (màng đệm nhau thai ở thai đực và thai cái cùng tiếp xúc với một núm nhau của tử cung bò mẹ, cả hai có chung nguồn máu và có cùng ảnh hưởng của kích thích tố testosterone, anti-mullerian). Theo Wernick ghi nhận có 5 – 11,4% tử cung một sừng trong các trường hợp bệnh lý trên gia súc. Nineteen ghi nhận có 2 – 10,5% dị tật ở sừng tử cung heo. Gethals khảo sát 1000 heo cái tơ cho thấy có 2,2% dị tật đường sinh dục với 3% trường hợp tử cung một sừng, 0,4% tử cung có hai sừng, 0,1% tử cung có hai thân.1: Tử cung một sừng trên heo 1.

Dị tật ở âm hộ và âm đạo Các trường hợp dị tật thường thấy như bị co thắt ở chó mèo, âm vật phát triển như dương vật nhưng biểu hiện bên ngoài giống con cái nhiều hơn, đôi khi có cả dương vật bên dưới rốn hoặc có dịch hoàn trong xoang bụng. Một số trường hợp âm đạo phát triển kém với khe rất hẹp và thông vào tử cung rất nhỏ. Nguyễn Văn Thành (1988) khảo sát 412 bò tại Vissan ghi nhận bệnh dị tật này chiếm tỷ lệ 0,24%. Bệnh dị tật bẩm sinh trên đường sinh dục thú đực 2.

Dịch hoàn ẩn Dịch hoàn ẩn có thể xảy ra trên một cái hoặc cả hai, thường gặp trên heo đực, chó đực… Nguyên nhân: Phần lớn các loài động vật có vú, dịch hoàn di chuyển xuống dưới để vào bìu. Cơ chế di chuyển của dịch hoàn chưa được hiểu rõ. Sự di chuyển của dịch hoàn tùy thuộc vào sự phát triển của cơ thể và sự thoái hóa của một dây chằng. Dây này được cấu tạo bởi mô liên kết gắn vào cực bụng của dịch hoàn và kéo dài đến vùng bẹn của phôi.

Trong quá trình tăng trưởng, những thay đổi ở từng giai đoạn khác nhau của dây làm cho dịch hoàn di chuyển xuống bìu theo cách cơ học. Nhưng vì một lý do nào đó mà dịch hoàn không thể di chuyển xuống bìu, có thể do dây chằng không thoái hóa hoặc thoái hóa chậm. Trên heo, cung cấp kích dục tố gonadotropin hoặc kích dục tố testosterone không làm dây chằng này tăng trưởng. Triệu chứng: Có thể nhìn thấy khiếm khuyết này bằng mắt thường.

Thú bị ẩn một dịch hoàn vẫn còn biểu lộ tính đực, phối giống và có khả năng thụ thai. Tuy nhiên, nếu thú bị ẩn cả hai dịch hoàn cũng còn biểu lộ tính đực như ve vản, phối giống nhưng không có khả năng thụ thai, trường hợp này có thể do dịch hoàn không có khả năng sản xuất tinh trùng (ống dẫn tinh có thể bị xoắn, phần da bên ngoài dịch hoàn có nhiệm vụ điều hòa thân nhiệt trong khi xoang bụng không thể) Hình 1.2: Dịch hoàn ẩn 2. Dịch hoàn phát triển bất thường Một số trường hợp khi quan sát, dịch hoàn có sự phát triển không bình thường dẫn đến những biểu hiện trở ngại sinh dục như: dịch hoàn không phát triển, dịch hoàn phát triển kém, dịch hoàn phát triển quá mức. Một số tình trạng bệnh dẫn đến sự trở ngại các hoạt động sinh sản, sinh dục thường thấy trên các loài gia súc như chó, heo, gia súc lớn…là một dịch hoàn, không có dịch hoàn, ba dịch hoàn, phó dịch hoàn bị teo… 3 2.

Bệnh nửa đực nửa cái Bệnh thường thấy trên các loài heo, cừu, dê, bò…với các dạng: thú vừa có dịch hoàn vừa có buồng trứng hoặc trong dịch hoàn có mô hay tế bào của noãn. Một số trường hợp lưỡng tính giả, thú có cơ quan sinh dục của thú đực bình thường nhưng biểu hiện tính dục thứ cấp của thú cái, thú có cơ quan sinh dục của thú cái bình thường nhưng biểu hiện tính dục thứ cấp của thú đực. Bệnh ở dương vật Ở một số loài, dương vật di động ra vào được nhờ vào các hoạt động co rút của các cơ dương vật, sự co rút yếu hay không co rút làm thú không thể giao phối được. Một số loài có bao qui đầu hẹp, tích nước tiểu gây nhiễm trùng dương vật, không phối được (trên heo tích nước bao qui đầu làm nước tiểu lọt vào tinh dịch khi lấy tinh).

Ngoài ra, bệnh ở dương vật còn ghi nhận các trường hợp dương vật kém phát triển, dương vật nhỏ, cong, ngắn, chẻ đôi.) Câu hỏi ôn tập: 1. Các trường hợp dị tật bẩm sinh trên thú đực? 2. Các trên hợp dị tật bẩm sinh trên thú cái? 3. Giải thích tại sao bò cái sinh đôi với bò đực không sinh sản được.

4 CHƯƠNG 2 BỆNH TRÊN THÚ CÁI TRONG THỜI KỲ MANG THAI MH27- 02 Giới thiệu: Nội dung chương cung cấp cho người học các kiến thức về bệnh trên gia súc trong thời kỳ mang thai. Mục tiêu: - Kiến thức: Hiểu các bệnh thuộc về gia súc cái trong thời kỳ mang thai, đề ra phương pháp phòng, trị có hiệu quả. - Kỹ năng: Phân biệt được các bệnh trên thú cái trong thời kỳ mang thai - Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Tự tin, có trách nhiệm với công việc, có khả năng tự học. Bệnh bại liệt trước khi sinh Bệnh bại liệt trước khi sinh trên thú cái thường gặp trên trâu, bò cao sản, heo…ở giai đoạn gần đẻ với hai dạng thường gặp: yếu hai chân sau và bại liệt toàn thân 1.

Nguyên nhân Thường do công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý không tốt hoặc do khẩu phần thức ăn không cân đối, không đáp ứng nhu cầu về vitamin và muối khoáng. Các nguyên nhân được ghi nhận như sau: - Chuồng trại không đạt yêu cầu, quá trơn láng, quá dốc, dễ té ngã, che chắn quá kín làm thú không tổng hợp được vitamin D. - Chế độ chăn thả không hợp lý, ít vận động nhất là vào các giai đoạn mùa mưa hay mùa đông. - Suy nhược, mệt mỏi của thú cái trong giai đoạn mang thai dẫn đến rối loạn tiến trình trao đổi chất làm việc hấp thu dinh dưỡng kém, đào thải chậm các chất cặn bã.

- Thiếu hay mất cân bằng Ca/P do khẩu phần thức ăn, thiếu vitamin D. - Cơ học: té, cắn nhau dẫn đến tổn thương thần kinh xương chậu. Triệu chứng Dạng nhẹ: thường xảy ra vào giai đoạn cuối thời kỳ mang thai. Triệu chứng biểu hiện đầu tiên là yếu hai chân sau, dáng đi không vững; đại gia súc thường đi không được, thú nằm yên một chỗ, nằm sấp trên ức và đầu quay về phía hông; trên heo thường cố gắng đứng lên, loạng choạng, run chân… Trường hợp do các 5 yếu tố dinh dưỡng như thiếu calcium, phospho, vitamin D hay tỷ lệ Ca/P mất cân đối thân nhiệt có thể giảm 0,5-10C Dạng nặng: thú không đi lại, nằm một chỗ, teo bắp cơ ở chân nếu thú nằm một bên trong thời gian dài, thú có thể bị lỡ loét ở phần dưới, nhiễm trùng, kém ăn hoặc bỏ ăn,sốt…có thể nhiễm trùng huyết, dần dần hôn mê rồi chết.

Trong trường hợp thú bị bại liệt do thiếu Ca, P hay vitamin D thì thân nhiệt hạ, mất trương lực cơ nhất là phần cơ trơn của đường tiêu hóa (chướng hơi dạ cỏ trên trâu, bò) có thể thấy bệnh lý xoắn tử cung (thai di chuyển mà cơ thể không di chuyển) 1. Biện pháp phòng và trị - Cần phân biệt với các bệnh có triệu chứng tê liệt như tetanos, ketosis… - Điều chỉnh phương pháp nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý, chế độ chăn thả, làm việc hợp lý trước và trong thời kỳ có thai. - Chế độ dinh dưỡng đầy đủ, chú ý đến lượng, chất, nhất là các vitamin và muối khoáng.) - Thường xuyên thay đổi thế nằm của thú nhằm tránh tụ huyết, lỡ loét. - Điều trị bằng thuốc ( vitamin D, Calcium gluconate, Calcium Chloride.

Điều trị phải tốc độ và tích cực để mang lại hiệu quả cao, thú mau lành bệnh, ít ảnh hưởng đến khả năng sinh đẻ. Bệnh sa âm đạo Thường xảy ra vào giai đoạn cuối của thai kỳ và có thể xảy ra ngay sau khi sinh. Thường thấy là: sa âm đạo một phần, sa âm đạo toàn phần hay vừa sa âm đạo vừa sa tử cung, sa trực tràng, trì kéo bàng quang… 2. Nguyên nhân Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sa âm đạo: - Cuối thời kỳ mang thai, bào thai phát triển, cử động, gia tăng thể tích của tử cung, của dạ cỏ.

tạo áp lực chèn ép đẩy âm đạo ra ngoài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ