chương 1 sẽ giới thiệu những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp và quản trị tài chính doanh nghiệp như: - Các hình thức tổ chức doanh nghiệp và hoạt động tài chính doanh nghiệp, - Khái niệm, mục tiêu và chức năng của quản trị tài chính doanh nghiệp, - Vị trí và mốì quan hệ giữa quản trị tài chính với các hoạt động quản trị khác trong doanh nghiệp, - Tổ chức bộ máy quản trị tài chính doanh nghiệp, - Tóm tắt nội dung và phương pháp nghiên cứu môn học. Doanh nghiệp và hoạt động tài chính doanh nghiệp 1. Các hình thức tổ chức doanh nghiệp và mục tiêu của doanh nghiệp * Khái niệm về doanh nghiệp Có nhiều quan điểm khác nhau về doanh nghiệp. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì “doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản và trụ sở giao dịch ổn định, được đáng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
7 * Các hình thức tổ chức doanh nghiệp Doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều hình thức pháp lý khác nhau, song nhìn chung có một số hình thức cơ bản sau: - Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Có thể nói rằng doanh nghiệp tư nhân là hình thức tổ chức kinh doanh lâu đời nhất và đơn giản nhất của một thực thể kinh doanh. Đặc điểm nổi bật nhất của doanh nghiệp tư nhân là người chủ phải chịu trách nhiệm vô hạn đốì với các nghĩa vụ tài chính của nó. Điều này có nghĩa là người chủ phải chịu trách nhiệm đốì với doanh nghiệp về mặt tài chính không chỉ trên phần vốn đầu tư ban đầu mà khi cần còn phải đem cả tài sản cá nhân để trang trải cho các khoản nợ của doanh nghiệp.
Thuận lợi lớn nhất của doanh nghiệp tư nhân là việc thành lập rất đơn giản, dễ dàng. Chủ doanh nghiệp là người có toàn quyền quyết định hoạt động kinh doanh, được nhận tất cả thu nhập từ kinh doanh sau khi đã thanh toán các khoản nợ. Nhưng loại hình doanh nghiệp này cũng có một số hạn chế như chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm vô hạn đôi với tất cả các khoản nợ trong kinh doanh. So với các loại hình doanh nghiệp khác, các hình thức huy động vốn của doanh nghiệp tư nhân cũng có giới hạn nhất định.
Doanh nghiệp không có quyền huy động vốn dưới bất kỳ hình thức phát hành chứng khoán nào. Vì thế quy mô của doanh nghiệp phụ thuộc vào tiềm lực tài chính của người chủ cũng như khả năng vay mượn của ông ta. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy đa số các doanh nghiệp tư nhân đều là doanh nghiệp nhỏ. - Công ty hợp danh: là doanh nghiệp trong đó: 4- Phải có ít nhất 2 thành viên là đồng sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (gọi là thành viên hợp danh), ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn.
8 + Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. + Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Loại hình công ty hợp danh có lợi thế hơn doanh nghiệp tư nhân về khả năng huy động vốn do có thể có nhiều thành viên tham gia góp vốn kinh doanh. - Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH): là loại công ty do các thành viên góp vốn để thành lập và họ chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vôn đã góp vào công ty.
ở Việt Nam, theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, công ty TNHH (hai thành viên trở lên) là doanh nghiệp trong đó: + Các thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. + Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá 50. Ngoài ra, còn có công ty TNHH 1 thành viên. Đây là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp.
So với 2 loại hình doanh nghiệp nêu trên, công ty TNHH có thuận lợi hơn là các thành viên của nó chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn mà họ đã góp. - Công ty cổ phần: là công ty trong đó các thành viên cùng góp vốn dưới hình thức cổ phần để hoạt động. ở Việt Nam, theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, công ty cổ phần (CTCP) là doanh nghiệp trong đó: + Vôn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. + Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tôì thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa.
9 + cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Căn cứ vào hình thức phát hành cổ phiếu, công ty cổ phần có hai loại: CTCP nội bộ và CTCP đại chúng. Công ty cổ phần nội bộ là loại công ty chỉ phát hành cổ phiếu trong các cổ đông sáng lập, công nhân và những người quen thuộc với công ty. Công ty cô phần đại chúng là loại công ty có phát hành cổ phiếu rộng rãi ra công chúng.
Mức độ rộng rãi như thế nào tuỳ thuộc vào luật pháp của từng quốc gia. So với các loại hình doanh nghiệp khác, CTCP có lợi thế về các hình thức huy động vôn. Ngoài các hình thức huy động vốn như các doanh nghiệp khác, CTCP là loại doanh nghiệp duy nhất được phép huy động vôn thông qua phát hành cổ phiếu. - Doanh nghiệp nhà nưởc (DNNN): là loại hình doanh nghiệp do nhà nước đại diện nắm quyền sở hữu, quản lý nhằm phục vụ cho những mục tiêu chung của nền kinh tế và của xã hội.
Ớ Việt Nam, theo luật DNNN năm 2003 thì DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, hoặc có cổ phần vôn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH. Trong nền kinh tế thị trường, Chính phủ thường đầu tư thành lập các DNNN trong những ngành chậm thu hồi vốn, khó thu hút vốn từ khu vực tư nhân, hoặc đầu tư vào những ngành kinh tế mũi nhọn nhằm thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển. - Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam: là doanh nghiệp được thành lập ở Việt Nam do các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư một phần, hoặc toàn bộ vôn nhằm thực hiện các mục tiêu chung là tìm kiếm lợi nhuận, có tư cách pháp nhân, mang quốíc tịch Việt Nam, tổ chức và hoạt động theo quy chế của công ty TNHH, CTCP và tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam. * Mục tiêu của doanh nghiệp Hầu hết các doanh nghiệp trong kinh doanh đều có mục tiêu càng làm ra nhiều lợi nhuận và nâng cao giá trị thị trường của 10 doanh nghiệp càng tốt.
Tuy nhiên, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận không phải lúc nào cũng có thể dễ dàng xác định, bởi mục tiêu này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như thời gian, rủi ro. và có mối quan hệ tác động đến nhiều vấn đề khác trong doanh nghiệp cũng như nền kinh tế - xã hội. Do đó không thể coi tối đa hoá lợi nhuận là yếu tố duy nhất tác động đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nói cách khác, ở một mức độ nào đó, tôì đa hoá lợi nhuận không phải là mục tiêu hành động trong nhiều tình huống thực tế.
Tối đa hóa giá trị thị trường của doanh nghiệp chính là tôì đa hoá giá trị tài sản của các chủ sở hữu hiện tại của doanh nghiệp. Điều này dẫn tới kết quả là thị giá cổ phần của doanh nghiệp ngày càng cao hơn. Vì thế, đây là mục tiêu được các cổ đông dễ chấp nhận. Nhưng, các nhà quản trị cũng rất khó có thể đánh giá chính xác mức độ ảnh hưởng của một quyết định đôì với giá trị của doanh nghiệp, bởi nó chịu tác động của rất nhiều yếu tố.
Hơn thế nữa, thị trường đồng nghĩa với những biến đổi khôn lường. Tuy nhiên, nhà quản trị giỏi phải là người đưa ra được nhiều quyết định đúng hơn là những quyết định sai lầm và tôì đa hoá giá trị củạ doanh nghiệp phải luôn là mục tiêu của mọi hoạt động. Hoạt động tài chính của doanh nghiệp Mặc dù có nhiều loại hình doanh nghiệp, với những hình thức pháp lý và bộ máy tổ chức khác nhau, có những đặc điểm riêng về sản xuất, kinh doanh, tài chính. nhưng nội dung các hoạt động tài chính, mục tiêu và chức năng của quản trị tài chính doanh nghiệp thì giông nhau.
Hoạt động tài chính của doanh nghiệp khá phức tạp và thể hiện thông qua nhiều quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp vói các chủ thể khác trong nền kinh tế. Tuy nhiên, có thể xếp chúng thành 3 nhóm cơ bản: quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với nhà nước, quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp vói thị trường và quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp. - Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với nhà nước được thể hiện qua việc doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ tài chính của 11 mình đốì với nhà nước như nộp các khoản thuế và lệ phí (thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giả trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế môn bài, lệ phí trước bạ, lệ phí chứng thư v. Ngoài ra, riêng đốì với DNNN, doanh nghiệp được nhà nưóc cấp vốn để hoạt động theo chức năng và nhiệm vụ được giao.
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác trên thị trường như: quan hệ thanh toán trong mua bán tài sản, vật tư, hàng hóa, dịch vụ; quan hệ với ngân hàng và các tô chức tín dụng khác trong huy động vốn và cho vay, đầu tư vốn, tài sản; quan hệ với các tổ chức bảo hiểm trong tham gia bảo hiểm và nhận tiền bồi thường bảo hiểm v.