chương I bao gồm: 1. Một số vấn đề cơ bản của quản lý môi trường 2. Các vấn đề cơ bản của phát triển bền vững 3. Những vấn đề chung trong quản lý môi trường.
Sau khi học xong chương này, sinh viên cần nắm được: 1. Vai trò của môi trường đối với sự phát triển của con người 2. Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển, phát triển bền vững 3. Khái niệm về quản lý môi trường, các nguyên tắc và mục tiêu của công tác quản lý môi trường, các nội dung của quản lý môi trường.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG 1.1 Khái niệm về môi trường Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về môi trường tùy thuộc vào phạm vi và đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học khác nhau. Chúng ta có thể tham khảo một số định nghĩa dưới đây về môi trường. Theo nghĩa rộng nhất thì môi trường là tập hợp các điều kiện, hiện tượng bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện. Như vậy, bất kỳ một vật thể hoặc sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường.
Khái niệm chung về môi trường như vậy được cụ thể hóa đối với từng đối tượng và mục đích nghiên cứu. Đối với cơ thể sống thì “môi trường sống là tổng hợp những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể” (Lê Văn Khoa, 1995). Theo nghĩa hẹp thì môi trường được hiểu là môi trường sống của con người. UNESCO (1981) đã định nghĩa môi trường của con người bao gồm các hệ thống tự nhiên và các hệ thống nhân tạo, những cái hữu hình (đô thị, hồ chứa…), những cái vô hình (phong tục tập quán, nghệ thuật…) trong đó con người sống và bằng lao động của mình họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên, nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình.
Như vậy, môi trường sống đối với con người không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng, phát triển cho một 14 thực thể sinh vật là con người mà còn là “khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự nghỉ ngơi của con người”. Điều 3 Luật BVMT 2005 định nghĩa môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và các loài sinh vật. Cần phải lưu ý rằng, Luật bảo vệ môi trường Việt Nam coi môi trường gồm các vật chất tự nhiên và một số dạng vật chất nhân tạo như khu dân cư, hệ sinh thái, khu sản xuất, khu di tích lịch sử,… Cho nên, có thể coi đây là khái niệm môi trường theo nghĩa hẹp vì thiếu nhiều yếu tố xã hội nhân văn và hoạt động kinh tế. Tóm lại, khái niệm môi trường hiểu theo nghĩa rộng là môi trường sống của sinh vật nói chung, theo nghĩa hẹp là môi trường sống của con người nói riêng.
Trong chương trình này, môi trường được xem xét theo nghĩa môi trường sống của con người. Khi nghiên cứu môi trường cần phải nhận thức: Môi trường là hậu quả của quá khứ có tác động ảnh hưởng đến hiện tại và có nghĩa quyết định đối với tương lai. Vì vậy, chúng ta cần phải luôn ý thức rằng những gì chúng ta làm tổn hại cho môi trường hôm nay thì ngày mai chính chúng ta hoặc các thế hệ con cháu của chúng ta sẽ chịu hậu quả. Tương lai của các thế hệ sau này đang phụ thuộc vào hành động của chúng ta.2 Phân loại môi trường Tùy theo mục đích nghiên cứu và sử dụng, có nhiều cách phân loại môi trường khác nhau.
Có thể phân loại môi trường theo các đặc trưng sau: a. Phân loại theo chức năng - Môi trường thiên nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, sinh học, hóa học tồn tại khách quan ngoài ý thức của con người nhưng ít nhiều cũng chịu tác động của con người (ánh sáng mặt trời; đất; nước; không khí; động thực vật; các khoáng sản…). Như vậy, môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng, canh tác, chăn nuôi, cung cấp cho con người những nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá phục vụ cho quá trình sản xuất và tiêu thụ. - Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con người.
Đó là luật lệ, thể chế, cam kết, quy định ở các cấp khác nhau. Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các thành phần sinh vật khác. - Môi trường nhân tạo là khu vực giao nhau giữa môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội. Môi trường nhân tạo bao gồm các nhân tố vật lý, hoá học, sinh học, xã hội do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người.
Môi trường nhân tạo chính là kết quả tích luỹ của các hoạt động tích cực hay tiêu cực của con người trên địa bàn môi trường. 15 Ba dạng môi trường trên đan xen nhau cùng tồn tại và tương tác với nhau trong mọi phạm vi không gian, thời gian. Phân loại theo sự sống - Môi trường vật lý: là các thành phần vô sinh của môi trường tự nhiên như thạch quyển, thủy quyển, khí quyển. Hay nói một cách khác, môi trường vật lý là môi trường không có sự sống.
- Môi trường sinh học (Bio-Environment): là thành phần hữu sinh của môi trường, hay nói cách khác là môi trường mà ở đó có diễn ra sự sống: các hệ sinh thái, các quần thể thực vật, động vật, vi sinh vật và cả con người. Khái niệm thuật ngữ môi trường sinh học đã đưa đến thuật ngữ Môi trường sinh thái (Ecological Environment), điều đó muốn ám chỉ môi trường này là sự sống của sinh vật và của con người, để phân biệt với những môi trường không có sinh vật. Tuy nhiên, hầu hết các môi trường đều có sinh vật tham gia; chính vì vậy, nói đến môi trường là đề cập đến môi trường sinh thái. Nhưng khi người ta muốn nhấn mạnh đến “tính sinh học” và bảo vệ sự sống, người ta vẫn quen dùng khái niệm môi trường sinh thái, hoặc sử dụng nó như một thói quen.
Phân loại theo thành phần tự nhiên - Môi trường đất - Môi trường nước - Môi trường không khí. Phân loại theo vị trí địa lý - Môi trường ven biển - Môi trường đồng bằng - Môi trường miền núi. Phân loại theo khu vực dân cư sinh sống - Môi trường thành thị - Môi trường nông thôn Ngoài các cách phân loại trên còn có các cách phân loại khác phù hợp với mục đích nghiên cứu, sử dụng của con người và sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, dù bất cứ cách phân loại nào thì cũng đều thống nhất ở một sự nhận thức chung: Môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển.3 Các chức năng cơ bản của môi trường Với sinh vật nói chung và với con người nói riêng thì môi trường sống có các chức năng chủ yếu như sau: 16 a.
Môi trường là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật Mỗi người đều có yêu cầu về số lượng không gian cần thiết cho các hoạt động như: nhà ở; nhà nghỉ; đất dùng cho sản xuất lương thực, thực phẩm, tái tạo chất lượng môi trường sống (rừng, biển, không gian v. Mỗi ngày con người cần 4m3 không khí sạch để thở, 2,5 lít nước uống, một lượng lương thực thực phẩm tương ứng với 2000-2500 calo. Hay nói một cách khác, môi trường là không gian sống của con người. Có thể phân loại chức năng không gian sống của con người thành các dạng cụ thể sau đây: - Chức năng xây dựng: cung cấp mặt bằng và nền móng cho các đô thị, khu công nghiệp, kiến trúc hạ tầng và nông thôn.
- Chức năng vận tải: cung cấp mặt bằng và không gian cho việc xây dựng các công trình giao thông thủy, bộ và hàng không. - Chức năng giải trí của con người: cung cấp mặt bằng, không gian cho hoạt động giải trí của con người. - Chức năng cung cấp mật bằng và các yếu tố cần thiết khác cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản, v. Con người đòi hỏi ở không gian sống không chỉ ở phạm vi rộng lớn mà còn cả chất lượng.
Yêu cầu về không gian sống của con người thay đổi theo trình độ kỹ thuật và công nghệ sản xuất. Trình độ phát triển của nhân loại càng được nâng cao thì khả năng khai thác không gian sống càng được tăng cường. Do đó, nhu cầu về không gian sản xuất càng giảm. Trong khi khai thác chức năng không gian sống của môi trường con người cần phải chú ý đến tính chất tự cân bằng của hệ sinh thái, nghĩa là khả năng của các hệ sinh thái có thể gánh chịu trong những điều kiện khó khăn nhất.
Việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên có thể làm cho chất lượng không gian sống trên trái đất không thể phục hồi được. Chức năng cung cấp các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người Môi trường là nơi con người khai thác nguồn vật liệu, năng lượng cần thiết cho hoạt động sản xuất và cuộc sống như: đất, nước, không khí, khoáng sản, các dạng năng lượng (gỗ, củi, nắng, gió, than. Mọi sản phẩm công nghiệp, nông, lâm, ngư nghiệp, văn hóa, du lịch của con người đều bắt nguồn từ các dạng vật chất tồn tại trên trái đất và không gian bao quanh trái đất (môi trường). Các nguồn năng lượng, vật liệu, thông tin sau mỗi lần sử dụng được tuần hoàn quay trở lại dạng ban đầu thường được gọi là tài nguyên tái tạo.
Ngược lại, nếu bị mất mát, biến đổi hoặc suy thoái không trở lại dạng ban đầu thì được gọi là tài nguyên không tái tạo. Việc khai thác các nguồn tài nguyên hiện nay của con người có xu hướng làm cho tài nguyên không tái tạo bị suy thoái, cạn kiệt, tài nguyên tái tạo không được phục hồi dẫn đến 17 cạn kiệt và suy thoái môi trường. Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người ngày càng tăng cường khai thác các dạng tài nguyên mới và gia tăng số lượng khai thác, tạo ra các sản phẩm mới có tác động mạnh mẽ tới chất lượng môi trường sống (các loại vật liệu tổng hợp, hóa chất khó phân hủy.