Chương I DỰ ÁN VÀ CHU TRÌNH DỰ ÁN 1. KHÁI NIỆM DỰ ÁN VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN 1. Khái niệm dự án Từ những năm 50, cùng với công cuộc xây dựng, phục hồi sau thế chiến lần thứ II, quản lý dự án đã trở thành lĩnh-vực ngảy càng được chú ý, quan tâm. Đặc biệt trong hoạt động đầu tư phải có sự chuẩn bị cẩn thận và nghiêm túc, được xây dựng và soạn thảo`theo các dự án.
Ngày nay, từ "Dự án" được sử dụng rộng rãi trên phạm vi thế giới. Có những dự án tầm cỡ quốc gia, có những dự án của doanh nghiệp và có cả những dự án cá nhân hay hộ gia đình. Vậy "Dự án” là gì? Dự án được định nghĩa theo nhiều quan điểm khác nhau, - Theo Cleland và King: Dự án lä sự kết hợp giữa các yếu tố về nhân lực, trí lực trong một thời gian nhất định để đạt được một mục tiêu.: - Theo 'Cirdap: Dự án là một hoạt động để giải quyết một vấn đề hay hoàn thiện một trạng thái đặc biệt nào đó. - Theo quan điểm của Gittinger; dự án được định nghĩa theo 3 điểm sau: + Dự án là sự sắp xếp cố hệ thống các nguồn dự trứ cho đầu tư, các nguồn dự trử đó được lập kế hoạch, phân tích; định giá, thực thi và tiến hành như một đơn vị độc lập.
+ Dự án được coi như một đơn vị tác nghiệp nhỏ nhất trong một kế hoạch, hay một chương trình, được chuẩn bị và thực hiện như một thể tách biệt. + Dự án là một hoạt động trồng đó các nguồn dự trữ được sử dụng tốt nhất với khả năng thu hồi và có lãi khi đự án kết thúc. Từ các định øghia-đó; chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm chung của một dự án như sau; - Dự án không chỉ là một ý định hay môt phác thảo, mà có tính cụ thể với mục tiêu xác định, nhằm đáp ứng một nhu cầu riêng biệt. - Dự án tôn: tai:theo'mốt chu kỳ sống với điểm bắt đầu và điểm kết thúc cụ thể, để hoàn thành một mục tiêu nhất định.
Đó chính là sự khác biệt của dự án so với các hoạt động bình thường được lặp đi, lặp lại theo một thời gian nhất định. - Việc xác định rõ một dự án được bắt đầu từ việc xem xét các nguồn lực và sử dụng các công cụ quản lý, xác định không gian và thời gian, xác định các mối quan hệ và đánh giá hiệu quả dự án. - Vì liên quan đến một thực thể trong tuong lai, bất kỳ dự án nào cũng có rủi ro và bất trắc có thể xảy ra. ~ 4 ˆ Như vậy một dự án có các đặc trưng như sau: + Mục tiêu của dự án: Dự án có.
mục tiêu phát triển và mục tiêu trước mắt. + Các hoạt động: Là những.nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự án. ha > + Các nguồn lực: Các nguồn lực của dự án bao gồm vật chất, tài chính và. con, người.
$ i + Kết quả: Đó là những kết quả cụ thể của dự án. Đáy là điều kiện cần thiết để thực hiện mục tiêu dự án. Phan loai du an Trong thực tế các dự án rất đa dạng, dựa vào các tiêu chuẩn khác nhau, ta có thể phân loại dự án theo các cách khác nhau: 1.1, Căn cứ vào nội dung để phân loại dự án Du án theo lãnh thổ, dự án theo'hang mục và đự án theo chức náng. + Dự án theo lãnh thổ là những dự án mà tất cả những nội dung của dự án đều được thực hiện trên một phạm vi lảnh:thổ nhất định như dự án vùng nguyên liệu, dự án vùng phòng hộ.
+ Du an theo hang mục là những dự án chỉ giải quyết một hoặc mot vai hang mục nào đó trong một chương trình lớn (hoặc một dự án lớn). Tuy nhiên các hoạt động của dự án lại không giới hạn trên một lãnh thổ nhất định như: du án đời sống, dự án đào tạo, dự án cải tạo đất v. + Dự án theo chức năng là những dự án nhằm giải quyết một chức năng nào đó như: dự án nghiên cứu, dự án sẵn xuất, dự án tiếp thị. Căn cứ vào trình tự thực hiện phân loại dự án Dự án thí nghiệm dự án kiểm định, dự án trình diễn và dư án sản xuất.
+ Dự án thí øghiệm; là những dự án nhằm giải quyết những vấn đề nào đó theo con đường hoặc giải pháp mới trong giai đoạn thí nghiệm nghiên cứu. + Dự án kiểm định là những dự án nhằm thực hiện và kiểm tra các kết quả nghiên cứu trong những điều kiện đã định hay điều kiện tiêu chuẩn. + Dự án trình diễn là nhứng dự án nhằm mục đích phổ biến và chuyển giao các kết quả nghiên cứu đã được thẩm định. + Dự án sản xuất là những dự án nhằm đưa kết quả, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất.
Căn cứ địa chỉ khách hàng phân loại dự án + Dự án xuất khẩu. + Dự án tiêu thụ nội bộ (địa phương). Căn cứ người khởi xướng phân loại dự án + Dự án cá nhân. + Dự án tập thể.
+ Dự án quốc gia. + Dự án quốc tế. Căn cứ sào quy mô phân loại dự án + Dự an nhỏ. Theo điều lệ quần lý đầu tư và xây dựng cơ bản, tuỳ theo tính chất quy mô, dự án đầu tư được phân thành 3 nhóm: A,B,C như sau: a) Dự án thuộc nhóm A có một trong các điều kiện sau: + Các dự án đầu tư mới thuộc các ngành: sản xuất các chất độc hai, chất nổ, khai thác chế biến các khoáng sản quý hiếm, + Những du án có tống mức đầu tư-lớn.
* Trân 200 tý đồng Việt Nany hoặc trên 20 triệu Ư8D với các nganh: Công nghiệp điện, khai mỏ, luyện kim, chế tạo máy, nhiên liệu, xi măng, giao thông. thuỷ lợi, cấp thoát nước đô thị. ** Trên 100 tỷ đồng Việt Nam hoác trên 10 triệu USD thuộc các ngành: K: thuật điện, điện tử, hoá chất; phản bón, chế tạo cơ khí, vật liệu xây dựng sảnh, sứ, thuỷ tỉnh, giấy, dệt, da, may mặc, bưu điện, hoá dược, chế biến nông Ìâm: sản, thực phẩm, thuỷ sản, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản. *** Trên ð0 tỷ đồng Việt Nam:hoặc trên 5 triệu USD đối với các ngành con lại.
+ Dự án khôi phục; cải tạö:mở rộng, đổi mới kỹ thuật có tổng mức đầu tư bằng 70% so với mức đầu tư quy định trên. b) Dự án-thuộc nhom B đó một trong các điều kiên sau: + Những dự án thuộc mục (*) có tổng mức đầu tư từ 25- 200 tỷ đồng Việt Nam (hoặc tử 2;5-- 20 triệu USD). + Những dự ăn thuộc mục (**) có tổng mức đầu tư từ 15 - 100 tỷ đồng Việt Nam (hoặc tử Lỗ - 10 triệu USD). hứng dự án thuộc mục (***) có tổng mức đầu tư vốn từ ð - 50 tỷ đồng Việt Nam (Hoặc từ 0,ỗ - 5 triệu USD).
c) Những dự án thuộc nhóm C là những dự án không thuộc diện các đối tượng nêu trên. Mỗi doanh nghiệp, công ty, chủ đầu tư. thường chủ trì hoặc tham gia một vài dự án lớn, nhưng có thể có nhiều dự án nhỏ cùng đồng thời thực hiện. Các dự án lớn và các dự án nhỏ, tuy có những nét chung nhưng về phương diện quần lý có nhiều đặc điểm riêng đòi hỏi phải áp dụng các phương pháp và công cụ quản lý khác nhau.
Khái niệm về quản lý dự án Ngày nay việc quản lý dự án đã trở thành vấn để hết sức bức thiết. Mỗi doanh nghiệp thường phải tiến hành cùng một lúc nhiều đự án liên quan, phụ thuộc lẫn nhau. Số lượng dự án nhiều, quy mô dự án cũng lớn lên và phức tạp hơn. Khoa học kỹ thuật và công nghệ ngày càng phát triển, các hoạt động do các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực cùng tham gia.
Do nhu cầu của khách hàng và xã hội ngày càng cao trong khi đó các nguồn lực có hạn cùng với những \ vấn dé về môi trường sinh thái ngày càng xấu ởi. 5 Những đòi hỏi ngày càng nghiêm khắc đó của thực tế buộc người ta phải quan tâm đến việc nghiên cứu tổ chức hợp lý toàn bộ quá trình xây dựng và thực hiện các hoạt động bằng các dự án, tức là nghiên cứu đến quản lý dự án. Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhạu về quản lý dự án, nhưng quẳn lý dự án được khái quát theo nghĩa rộng bao gồm các nội dung sau: - Định ra mục tiêu dự án - Đó là kết quả cuối cùng cần đạt được, thời gian, các tiêu chuẩn đánh giá, các kết quả đạt được. - Xác định các nguồn lực cần huy động (nguyên nhiên vật liệu, nhân lực, tiền vốn, thông tin, công nghệ và kỹ thuật).
- Mục tiêu của dự án, các nguồn lực huy động và việc phân bổ, sử dụng các nguồn lực đó được trình bày trong chương trình hay kế hoạch của dự án. - Đánh giá các rủi ro có thể xảy ra và đề xuất các biện pháp ngăn ngừa, né tránh và quần lý rủi ro. : - Déng vién những người tham gia dự án, liên kết các hoạt động của họ và thường xuyên nắn tình Bình thông qua bộ phận theo dõi đự án để kịp thời tác động. n - Giám sát và đánh giá dự án để cung cấp các thông tin về những thay đối và tiến độ thực hiện đự án.
Đánh giá các giai đoạn để trợ giúp quyết định cũng như tổng kết, rút kinh f8ghiếm của dự án. Khái niệm quản lý dự án theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ các nội dung trên. Quản lý dự án không chỉ đơn thuần thực hiện một khối lượng công việc đã được vạch định sẵn, mà khó khăn nhất chính là việc tính toán, xác định khối lượng công việc đó. Vì vậy, giai đoạn xác lập dự án không thể tách rời giai đoạn thực 8 thi dự án.
Hơn nứa, ngay cả trong quá trình thực thi dự án, đặc biệt các dự án có chu kỳ dài, người ta thường phải xem xétvà điều chỉnh lại mục tiêu dự ` án và các nguồn lực huy động sao cho phù hợp, sát thực tế và có hiệu quả nhất. Vì vậy không thể quan niệm quản lý dự án chỉ bao gồm công đoạn theo dõi thực hiện dự án. Ý nghĩa của quản lý theo dự án Trong quản lý doanh nghiệp cần phân biệt sự khác nhau giữa quản lý sản xuất kinh doanh theo dự án và quản lý nhiệm vụ sản xuất - kinh doanh theo kế hoạch và thời gian (theo năm, quý, tháng.