CHƯƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT CỦA IPM TRONG BẢO VỆ THỰC VẬT MH 26-01 Giới thiệu: Chương học cung cấp những thông tin sơ bộ về các loài gây hại trên cây trồng, những biện pháp phòng và trừ chúng đã được sử dụng trong suốt thời gian qua. Trong đó, biện pháp hóa học được phân tích rõ về tác hại của nó. Chương học còn giới thiệu về khái niệm IPM, nguyên tắc và nguyên lý hoạt động của IPM. Mục tiêu: Kiến thức: + Trình bày được các khái niệm về dịch hại, IPM.
+ Trình bày được nguyên tắc và nguyên lý hoạt động của IPM + Giải thích được năm nguyên tắc hoạt động của IPM Kỹ năng: Phân tích và thực hiện đúng về 5 nguyên tắc hoạt động của IPM Năng lực tự chủ và trách nhiệm: + Hiểu được tầm quan trọng của IPM trong bảo vệ thực vật + Nâng cao ý thức bảo vệ thiên địch và môi trường. + Có phương pháp làm việc khoa học, sáng tạo và luôn cập nhật thông tin. Những điều cần biết về thiệt hại do sâu bệnh, cỏ dại gây ra cho cây trồng 1. Tác hại của sâu bệnh, cỏ dại đối với cây trồng Cây trồng là nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng, đáp ứng các nhu cầu về đời sống và sinh hoạt của con người.
Từ những nhu cầu về lương thực, thực phẩm hàng ngày, may mặc cho đến làm thức ăn trong chăn nuôi gia súc, gia cầm và làm nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp. Cây trồng còn là nơi cư trú, nguồn thức ăn của nhiều loài sinh vật, bao gồm các loài gây hại và vi sinh vật gây bệnh. Theo ước tính, cây trồng ngày nay chịu ảnh hưởng bởi khoảng trên 10 ngàn loài sâu hại quan trọng, 100 ngàn loài bệnh nguy hiểm và 30 ngàn loài cỏ dại có hại. Tác hại của sâu bệnh và cỏ dại, một mặt làm giảm năng suất hoặc có thể gây ra mất mùa, mặt khác làm giảm chất lượng nông phẩm, có đôi khi làm nông phẩm không tiêu thụ được, phải đổ bỏ hàng loạt.
1 Lịch sử nông nghiệp thế giới đã ghi nhận nhiều trận dịch hại quan trọng gây tổn thất to lớn cho nền nông nghiệp. Dịch châu chấu ở châu Phi, rệp sáp hại nho ở Pháp, bệnh mốc sương hại khoai tây ở châu Âu. Dịch rầy nâu ở các nước trồng lúa châu Á trong vòng 10 năm (từ năm 1966 - 1975) đã gây thiệt hại to lớn ở khu vực này, đặc biệt là ở Philippin, Indonexia, Ấn Độ và Thái Lan. Thiệt hại theo thống kê chưa đầy đủ đã lên tới 300 triệu đôla (Dyck and Thomas, 1979).
Một loại cây lương thực quan trọng ở Châu Phi là sắn, tuy nhiên dịch rệp sáp hại sắn (Phenacoccus manihoti) đã gây thiệt hại rất to lớn ở châu lục này. Rệp này đầu tiên gây hại nặng ở Côngô và Tây Phi năm 1973. Trong vòng 15 năm sau đã lan rộng như một đám cháy lớn trên khắp 32 nước châu Phi. Sự phá hại của chúng có thể làm giảm tới 80% năng suất sắn.
Thiệt hại hằng năm lên tới 2 tỷ đôla đôla (Dyck and Thomas, 1979). Ở Việt Nam, rầy xanh đuôi đen cùng với bệnh vàng lụi đã xuất hiện ở các tỉnh miền núi đồng bằng và trung du Bắc bộ trong những năm 60 và đầu 70 cũng đã gây thiệt hại to lớn đến cây lúa. Hay, dịch rầy nâu hại lúa cùng với bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá đã gây thất thu hơn 1 triệu tấn lúa tại các tỉnh Nam bộ. Trong hai năm 1986 và 1987, bọ xít hại lúa ở hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa cũng đã gây thiệt hại rất quan trọng, làm tốn kém về nhân lực và nhân lực phòng trừ.1: Sự gây hại của rầy nâu trên ruộng lúa Nhiều loài sâu bệnh khác rất phổ biến trên cây trồng, tuy không phát triển thành dịch nhưng đã gây hại thường xuyên làm giảm năng suất và tốn kém trong phòng 2 trừ, như: sâu đục thân, bệnh đạo ôn và khô vằn trên lúa, sâu tơ hại bắp cải, sâu xanh hại bông, chuột cắn phá ruộng lúa, ốc bưu vàng, bệnh chết héo ở đậu phộng, bệnh xoắn lá ở cà chua, bệnh mốc sương khai tây, mọt đục cành cà phê…… Chuột hại lúa Ốc bươu vàng hại lúa Hình 1.2: Sự gây hại của chuột và ốc bưu vàng trên ruộng lúa 1.
Mức độ thiệt hại do sâu bệnh, cỏ dại gây ra Sâu bệnh đã gây ra nhiều thiệt hại cho nền nông nghiệp nói chung, làm giảm năng suất cây trồng, giảm phẩm chất nông sản, làm hư hại đất đai, gây độc cho con người. Các nhà khoa học đã tính toán được là hàng năm sâu hại đã làm giảm 13,8% khả năng năng suất cây trồng, bệnh hại làm giảm 11,6%, cỏ dại làm giảm 9,5%. Như vậy, tổng cộng tất cả 3 nhóm gây hại trên đã làm giảm đến hơn 30% năng suất cây trồng (Nguyễn Công Thuật, 1996). - Thiệt hại do sâu bệnh gây ra cho các loài cây trồng không giống nhau, ví dụ: giá trị sản lượng bị sâu làm mất là: 40% /lúa gạo; 35% /ngô; 43% /ngũ cốc khác; 24% /lúa mì; 33% / khoai tây; 38% /rau; 32% /cây lấy dầu; 45% /mía và củ cải đường; 29% /cam, chanh, nho; 32% /cây lấy sợi (Nguyễn Công Thuật, 1996).
- Thiệt hại do sâu bệnh gây ra ở các châu lục cũng rất khác nhau, do điều kiện khí hậu không giống nhau, các loại cây trồng không giống nhau và trình độ thâm 3 canh khác nhau, ví dụ: thất mùa do sâu bệnh gây ra: ở châu Âu là 25%; châu Đại Dương là 26%; ở Bắc và Trung Mỹ là 33%; châu Phi là 42%; châu Á là 43% (Nguyễn Công Thuật, 1996). - Thiệt hại do sâu bệnh gây ra không giống nhau ở các loại cây trồng khác nhau, thay đổi tùy thuộc vào điều kiện sinh thái cụ thể ở từng nơi và vào trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp. - Về vai trò và ý nghĩa của từng nhóm gây hại cũng rất khác nhau. Trong khi ở các nước châu Âu, châu Mỹ và châu Đại Dương thiệt hại do sâu gây ra ít hơn những thiệt hại do bệnh, ở châu Phi và châu Á tình hình lại ngược lại.
Tác hại của ba nhóm dịch hại này cũng rất khác nhau trên các đối tượng cây trồng khác nhau: - Đối với rau, khoai tây, cây ăn trái thì tác hại của bệnh lớn hơn của sâu và ít nhất là tác hại của cỏ dại. - Đối với lúa gạo thì tác hại của sâu hại là lớn nhất, sau đó đến bệnh và cuối cùng là cỏ dại. - Đối với lúa mì, tác hại của cỏ dại gây ra là lớn nhất, sau đó đến bệnh và cuối cùng là sâu. Khi nói đến tác hại của sâu bệnh thường chúng ta chỉ nghĩ đến phần nông sản bị sâu bệnh ăn mất.
Nhưng thực tế, phần này lại không nhiều, mặc dù sâu bệnh có lấy đi một phần cơ thể cây trồng làm thức ăn, nhưng không đáng kể. Tác hại của sâu bệnh chủ yếu là do sự hủy hoại quá trình sinh sống của cây trong khi chúng sinh trưởng và phát triển trên cây. Khi một phần nào đó trong cơ thể của cây bị hại, các quá trình sinh lý trong cây sẽ bị đảo lộn, quá trình sinh trưởng của cây không còn tiến hành một cách bình thường. Cây không những phải bù đắp những bộ phận bị hủy hoại mà còn phải sắp xếp lại các quá trình sinh sống cho phù hợp với tình trạng của cây khi mà có một số bộ phận trong cây không còn khả năng thực hiện các chức năng của nó.
Tác hại của sâu bệnh sẽ là rất lớn nếu bộ phận chúng tấn công là đỉnh sinh trưởng của cây. Một số loài sâu bệnh trong quá trình sinh trưởng và phát triển trên cây đã tiết ra những loại chất có tác động sinh học khác nhau và nó có thể là chất độc. Những chất độc này gây ra những rối loạn trong các hoạt động sinh lý của tế bào cây, làm cho những tế bào này không thể hoàn thành tốt chức năng của mình. Vì vậy, tác hại của 4 sâu bệnh không chỉ giới hạn ở vị trí chúng xâm nhập và gây hại trực tiếp mà còn lan ra xung quanh.
Một số loài sâu bệnh gây ra những ảnh hưởng xấu đến chất lượng nông sản, chúng làm giảm hàm lượng protein và axit amin trong hạt gạo, hạt ngô, … làm giảm tỷ lệ đường trong mía…,giảm các chỉ tiêu kỹ thuật trong xơ bông, trong thuốc lá, trong mũ cao su… Tóm lại, giá trị thương phẩm của nông sản giảm nhiều dưới tác hại của sâu bệnh. Giá trị của đất trồng trọt cũng bị giảm sút do tác hại của sâu bệnh: - Nhiều loài sâu bệnh sau khi gây tác hại trên cây có khả năng tồn tại và tích lũy trong đất. Các loài sâu bệnh này tích lũy ngày càng nhiều khi con người trồng liên tục một loại cây trồng trên cùng một mảnh đất. Với mật độ tích lũy cao, chúng sẽ làm cho năng suất cây trồng giảm dần, măc dù người ta tăng cường chăm bón đến bao nhiêu cũng không thể cho năng suất cây trồng tăng cao lên được (hay còn gọi là hiện tượng đất kiệt do đất bị nhiễm nặng các nguồn sâu bệnh).
- Nhiều trường hợp do tác hại của sâu bệnh mà một số cây trồng quý, có giá trị kinh tế cao không trồng được, mặc dù các điều kiện tự nhiên khác rất phù hợp. Người ta buộc phải thay đổi bằng một loại cây trồng khác. Sâu bệnh còn làm giảm giá trị hàng hóa của nông sản như để lại các vết đen, các đám sần sùi trên bề mặt của nông sản, làm cho vẻ ngoài của nông sản kém phần hấp dẫn. Sâu bệnh tồn tại trên nông sản làm cho chúng dễ bị thối móc, hỏng trong khi cất giữ.
Một số sâu bệnh khác sau khi gây hại cho cây ở ngoài đồng lại có thể được mang theo cùng với nông sản về nhà và t tiếp tục gây hại trong quá trình cất giữ nông sản trong kho. Trong quá trình cất giữ đó, chúng lại tiếp tục lây lan và đôi khi làm hỏng tất cả khối lượng nông sản trong kho. Tác hại của sâu bệnh thông thường có thể dễ dàng nhìn thấy trên đồng ruộng, nhưng đôi khi không trông thấy rõ và dễ bị lầm lẫn với những hiện tượng bị hại do thời tiết và môi trường gây ra. Chúng ta có thể nhìn thấy những vết sâu cắn trên lá, những lỗ sâu đục trên thân, trên trái….những vết bệnh màu nâu đen, trái bị thối nhũn, cành bị héo.
Đó là những triệu chứng thông thường, nhữngbiểu hiện dễ thấy do tác hại của sâu bệnh. Các biện pháp phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại 2.