CHƯƠNG 1 27 26 PHONG CACH-HOC. Tâm tính và tính cách con người Đồng nghĩa vănSbản trên bình điện cú đoạn cũng xuất biện trong sáng tác khi nhà văn ở đồi trở lại một để tài, a. Tam tinh, tam địa, bụng da, long da. thuật, song một nhân vật, cùng khái quát một tự tưởng nghệ b.
Tốt, tốt bụng, biến lành, hiện hậu. “lại phản ánh một cách đầy đủ, chân thực những khía cạnh, Cũng như ở cấp độ từ vựng, đồng nghiaở cấp độ vấn những phương diện khác nhau trong một sự phát triển lôgìc ra và bản được phát hiện ra trong trưởng Hợp có một loạt yếu tố Jcủa: hiện thực. Ví dụ hai truyện ngắn Khách ở quế Phiên chợ Giái của Nguyễn Minh Châu phản ánh hiện thực ( ở đây là văn bản) đã được hiện thực hóa trong ngữ nghĩa đời sống về một số phận con người : lão Khúng, của mình một ý nghĩa khái quất nào đó; có: tính chất. bất biến của một thừa:số chung dựa trên quan hệ hệ hình, hoặc đã có được ý nghĩa đó trong lời nói tiên cơ SỞ của quan 18:PHẬN TÍGH TU TỪ HỌC hệ cú đoạn.
Đối với các văn bản, ý nghĩa chung, khái quát, nhiều yếu lố đồng nghĩa, biết nhiều cách diễn đạt Biết. bất biến đó có thể hiểu là tính chất chung giống nhau của đồng nghĩa là rất cần thiết. Song cái cần thiết hơn là : trau hoàn cảnh được niều tả trong chúng: Khi đó đồng nghĩa nảy gidi được sự nhậy cảm trước những nết sai biệt rất nhỏ me sinh ra nhu la két qua cba viée thu gon van bản. gốc trong nh tế giữa các yếu tố đồng nghĩa, giữa các cách dién da các bình thức như tra tất, chú giải, giới thiệu (trên bình đồng nghĩa.
Vì chỉ có như vay, người ta mới có thế cảm diện hệ hình). Ví dụ, những tiểu thuyết rút gon (nhằm phd nhận được trong giao tiếp không chi thong tin lôgc - ngữ. biến tác phẩm đến mọi tầng lớp độc giả) từ những bộ tiểu nghĩa mã cả (hông li cẩm xúc — thẩm mĩ thuyết nhiều tập, như Chiến tranh và hòa bình, Những người Nét -khu biệt của văn bản nghệ thuật là ở chỗ nó không khốn khổ, Hồng Lâu Mông. thật sự là những văn bản đồng ham cuỉ chứa dựng cái nghĩa đen, sự vật - lãgia mà côn bao nghĩa chân chính so với nguyên tác, vì ngoài cốt truyện với: cái nghĩa nghệ thudt, thim mt, Cai nghĩa nghệ thuật, tháng các nhân vật cùng các tình Hết chính, chúng vẫn “ảo đảm dộc lập mĩ này không thể quan niệm được về mặt ngữ nghĩa được tính hình tượng của gon ngữ nghệ thuật.
với: hình: thúc hgôn ngữ đã cho. Bởi vì sự thay đổi hình thức TH sự nhá hủy cai MỸ ong nghia van ban trên binii diện cú đöận có thể được ngon ngữ. bau giỏ dũng kéc theo nó hoặc mịnh họa bằng tác phẩm Đời thừa, Trăng sẵng, sống môn của nghĩa nghệ thuật cụ thể, hoặc sự tạo lập ra một nghĩa nghệ Nam Cao. Mac dù Hộ, Điền, Thứ là ba.nhận vật khác “nhau, thuật mới” hưng chúng ta vấn thấyởở Họ có những nét chung nổi bật Quan niệm như trên về cái nghĩa nghệ thuật ~ thẩm mi trong tinh cach.
Nam Gao đã phát biện ra một bi kích thật của văn bản nghệ thuật, có thể đi đến một cách thiểu về sự đầy: đủ bằng những tác phẩm đồng nghĩa bổ sung, tô đậm phân tích tu từ:học như sau : cho nhau: Cảnh đời thiếu thốn, khó khan trong xã hội thực văn bản nghệ (huật, Ngôn dân phong kiến đã khiến cho con’ người sóng không xứng : (@. Một vài nhận xét về dặc trung của Ngoại ngữ quốc gia nei:văn: bản. Tuyển tập cấc công tánh khoa học Viện Sư phạm ——đáng xới.bản chất thực sự Moskva Mag en -M- Teres ~~ Tap 103:-~--Moskva,-1976, 1r. - ¬ „ tích tu bờ: học là phair tich quá tp.
các: phương tiện ngôn ngữ, chỉ ra 3Š -› tiền đây là sự phân tích tu từ học đối với một đoạn văn nghĩà tụ từ" hộc ;của: :` chính Juan? Đối với một đoạn văn, mội:khể' thơ sự lựa chọn và: kết hợp này đối với sự biểu của ngôn đạt. Sóng sự phan: ngữ nghệ thuật thì sử phân tích tu từ học lại đích ta từ học không dừng lại ở sự phân tích màu càng đòi hồi sắc tụ từ sự tính tế hơn. Lúc này sự phân tích đó không phải của các phương tiện tu từ cũng như hiệu quả chỉ là ta từ của các sự so sánh, đối phiếu với bất kì một hình thức đồng nghĩa biện pháp tt bờ mà còn tiến lên tìm hiển sự tác động của đơn giản nào (làm như vậy tất sẽ không tránh khỏi sự thô những giá trị ngôn ngữ lên giá tị văn học ; chỉ ra được mối kệch và liên quan giữa hệ thống tu từ và Hệ thống giả tạo), mà đã trở thành một sự liên tưởng sâu xa kế hùdh tượng, phan tối những hình tượng ngôn từ tương đồng vốn gợi ra tảich được giá nghệ thuật, thẩm mĩ của các su kién tu te, một nội dung bình giá cảm xúc phong phú trong một hình thức Phương pháp cơ bản trong phân tích ta diễn đạt văn học có điệu tính phù hợp. từ học là phép Bởi vì "văn bản đối chiếu, so sánh, thay thế thhững hình thức nghệ thuật truyền đạt một cái nghĩa không thể được điễn đồng nghĩa kháo nhau tương đương với sự biểu đạt trong văn bản đạt bằng những phát ngôn đồng nghĩa".
— (nghệ thuật ˆ và chính luận) và trên cơ sở đó rút ra sự khác nhau giữa. Đọc câu chúng để có thể xác định dung dan ý nghĩa ti thơ "Gió lộng. xôn xao; sóng biển đu: đưa" trong từ, giá trị bai Me Tơm của, Tố Hữu, có thể đặt câu hỏi : Tại sao thẩm mĩ của mỗi hình thức: đồng nghĩa. long xôn xao mà không phải là một từ khác ? "Xôn xao" là Một ví dụ trong văn chính lận : một từ láy mô phỏng tiếng động và hình đạng của gió, Ö Hồ Chả tịch viết : / l ‘dayIa -gió lộng đang thổi mạnh dan lên, làm xao động một - “Nếu đân đói là Đảng và Chính khóm cây, một bãi cát, một con sóng nào đấy.
Nhưng nếu phủ có lỗi ; nếu dân rét từ "xôn xao" chỉ cốt biểu hiện âm thanh một cách đơn là Đảng và Chính phủ có lối ; nếu đân đốt là Đảng thuần và Chính "như vậy thì có thể tháy từ "xôn xao" bằng từ "lao xao" phủ có lỗi ; nếu dâu ốm là Đẳng và Chính nhứ phủ có lỗi", một nhà thơ nào đó đã viết : "Ngọn gÌó vàng lao xao trong Có thể thấy chính kiểu lặp cú pháp toàn phan .cat", song ở đây từ 'xôn xao" của Tố Hữu dùng không (lập kiểu phải câu ghép, chỉ quan hệ giả thiết - hệ quả) chỉ để tả: ngọn gió thiên nhiên mà còn có tác dụng biểu kết hợp với lặp- từ vựng đã có tác dụng làm nổi bật từng điểm hiện lâm hồn nhà thơ. Đó là tâm trang đủa thột người về chính của nội dung thông tin (đói, Tết, đốt, ốm) lãm cho ý khửng định thêm thăm chốn cũ đã có nhiều kỉ niệm sâu sắc đối dứt khoát, mạnh mẽ, nói lên một cách cảm với mình - dong tim lãng “lâm trạng rạo fựe, rộn ràng, xốn xang! Trong khi nhà thơ cao cả của Bác, trách nhiệm to lớn của Đảng và Chính phủ như trải lòng mình ra trước thiên nhiên thì thiên là bết sức chăm nom, săn sóc đến đời sống nhiên cũng của nhân đân, "đồng cảm, tà gió lộng Lất sẽ. xôn xao, và biển số đu đưa, Nội dung cảm xúc nay sẽ miất đi rất nhiễu, - Bởi vi đây không phải "Tiếng sóng thét, tiếng sóng gào, và chỉ cồn lại một nội dung thông tin lôgic bình thườn bốn g, nếu nói vấn tất bê tiếng sóng" (Tế Hanh), mà là tiếng sóng nhẹ nhàng, chẳng hạn : "Nếu dan đói, rét, đốt, ốm là Đảng h. hiển và Chính dịu, vào lúc mặt biển đã phẳng lặng, những con phủ có 'lỗi", sóng lớn : ‘ : AB rit Ai nhường Ahà nha oho 14.
wee LL? + › CHUONG I 31 30 PHONG CACH HOC TIENG VIỆT” xây dựng những tiên để lí thuyết cho phong cách học thực, đải lụa nối nhau vỗ vào bãi cát, sóng cứ tiếp tục công việc: hành: cia minh một cách đếu đều không bạo giờ: mệt Tỏi, như bàn tay mẹ đưa nôi trong những buổi trưa hè: Sóng biển - Phong cách học thụcc hành có nhiệm vụ chủ yếu là nghiên áu dua ( Sóng tuần hoàn du dựa cũng như lâm trạng nhà - 'cúứu chỉ ra những qui tắc hướng dẫn cho người †a nói, viết thơ đang bâng:khuâng nghí quanh về những. ki :mệm đã xây tốt: trong những. điều kiện, hoàn cảnh giao tiếp cụ thé. ra trên mảnh đất này, và những cái gì sẽ và đang đổi mới Xuất phát từ quan điểm nghiên cứu chuỗi lời nói ri ruột trên mảnh đất này, Sóng du đưa cũng như lòng nhà thợ lãng quan hệ xéu từ hai phía (phát tin và nhận tin), M.
Riphate, lãng, bổi hồi kh về thăm chốn cũ sau ngày chiến thắng: chiara: ¿ Phong cách học lập mã (phát tin) có nhiệm vụ khảo sát 17. CÁC LOẠI PHONG CÁCH HỌC các vấn để thuộc về qui luật phát tín có hiệu lực. Hướng nghiên cứu của giáo: trình +.Phong cách học giải mã (nhận tín) có nhiệm vụ khảo sát các vấn để thuộc về qui luật nhận tin chính xác. Các loại phong cách học Những loại phong cách học trên đây được phân biệt một Trong nghiên cứu, người ta chia ra nhiều loại phong cách cách rõ ràng, không có "vấn để gì phải bàn cãi.
Riêng đối với học khác nhau với đối tượng, nhiệm vụ, nội dụng va. phương những loại phong cách dưới đây thì cần nói thêm cho rõ. pháp nghiên cứu khác nhau. Trên đại thé, co thé ke ra những loại phong cách học sau đây: Cân cứ vào sự phân biệt giữa ngôn ngữ và lời nói, căn cứ vào chức năng khác nhau của ngôn ngữ, viện sĩ V.
Xuất nhát từ sự đối lập giữa cái phổ quát chợ các ngôn Winôguradop chúa sa. ngữ và cái riêng cho bìng ngôn ngữ; từ sự đối lập giữa cái: chung cho cộng đồng và cái riêngỞ một cá thể. Ball chia ra: + Phong cách học ngôn ngữ (có khi côn được gọi là nhong - Phong cách học đại cương có nhiệm vụ khảo sát các vấn cách học cấu trúc, hoặc phong cách học chức năng) có nhiệm để chuug, vác ÌÝ thuyết của phong: cách học: vụ khảo sát các phong cách chức năng ngôn ngữ và các phương tiện biểu cảm của ngôn ngữ.