Chương I của Hiễn pháp năm 1992 và đưa các quy định về Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Thủ đô, ngày Quốc khánh tại Chương XI của Hiến pháp năm 1992 vì đây là những nội dung gắn liền với chế độ chính trị quốc gia. Hiến pháp năm 2013 bổ sung và phát triển nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thông nhất, có sự phân 114 công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tu phap”. Lan dau tién trong lich str lập hiến, nguyên tắc “ kiểm soát quyền lực” và “nhân dân thực hiện quyển lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp” được ghi nhận trong Hiến pháp. Đồng thời bổ sung điều 4 quy định về trách nhiệm của Đảng “phải gin bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”.
Chương II: Quyén con nguoi, quyén va nghĩa vụ cơ bản của công dân, gồm 36 điều (từ điều 14 đến điều 49), được xây dựng trên cơ sở sửa đồi, bô sung và bố cục lại Chương V của Hiển pháp năm 1992, đồng thời chuyển các quy định liên quan đến quyền con người, quyền công dân tại các chương khác của Hiến pháp 92 về Chương này. Sự thay đổi về tên gọi và bố cục này nhằm khẳng định giá trị, vai trò quan trọng của quyền con người, quyển cơ bản của công dân trong Hiến pháp, thể hiện nhất quán đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong việc công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Hiến pháp năm 2013 bổ sung một số quyền mới là quyền sống quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người, hiến xác; quyền bất khả xâm shar về đời sống riêng tư; quyền được đảm báo an sinh xã hội; quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hoá, sử dụng các cơ sở văn hoá; quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp; quyền được sống trong môi trường trong lành. Chương II: Kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường, gồm 19 điều (từ điều 50 đến điều 68), được xây dựng trên cơ sở lồng ghép chương II và chương III của Hiến pháp năm 1992 nhằm thể hiện sự gắn kết chặt chẽ, hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, giáo dục, khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường.
Hiến pháp năm 2013 bổ sung một điều quan trọng về chính sách tài chính công (điều 55) nhằm khăng định vai trò của tài chính công, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức sử dụng tài chính công và cơ sở hiến định cho việc thiết lập kỷ luật tài chính. Chương IV: Bảo vệ Tổ quốc, gồm 5 điều (từ điều 64 đến điều 68), được xây dựng trệ cơ sở giữ nội dung và bố cục của Chương IV Hiến pháp 115 năm 1992, xác định bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, phải được thể hiện trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. “ Chương V: Quốc hội, gồm 17 điều (từ điều 69 đến điều 85). Vị trí, chức năng, cơ cầu tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội cơ bản giữ như quy định của Hiến pháp năm 1992; đồng thời có sửa đổi, bô sung đê phù hợp với chức năng của cơ quan thực hiện quyển lập hiến, lập pháp và mối quan hệ giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Chương VI: Chủ tịch nước, gồm 8 điều (từ điều 86 đến điều 93), tiếp tục giữa các quy định của Hiến pháp năm 1992 về vị trí, vai trò của Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước CHXHCN Việt Nam về đối nội, đối ngoại, bố sung để làm rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước trong mỗi quan hệ với cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chương VỊI: Chính phủ, gồm 8 điều (từ điều 94 đến điều 101), tiếp tục kế thừa quy định của Hiến pháp năm 1992 về vị trí, chức năng, cơ câu tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, bổ sung quy định Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp. Chương VIHI: Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, gồm 8 điều (từ điều 102 đến điều 109), được đổi vị trí từ Chương X “Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân” của Hiến pháp năm 1992. Chương này được thể hiện logic, chặt chẽ, đi từ vị trí, vai trò, nguyên tắc tổ chức và hoạt động đến tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan.
Chương IX: Chính quyền địa phương, gồm 7 điều (từ điều 110 đến điều 116), được xây dựng trên cơ sở đổi tên Chương IX của Hiến pháp năm 1992 và quy định một cách tổng quát về phân chia đơn vị hành chính, còn những vấn đề về tổ chức, thấm quyền của từng cấp chính quyền địa phương sẽ do luật định. Chương X: Hội đồng bầu cử Quốc gia, Kiểm toán Nhà nước, gồm 2 điều (từ điều 117 đến điều 118), bố sung 2 thiết chế hiến định độc lập gồm Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán Nhà nước để làm rõ hơn quyền 116 làm chủ của Nhân dân, cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực, hoàn thiện bộ máy nhà nước pháp quyền XHCN. Chương XI: Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đôi Hiến pháp, gồm 2 điều (từ điều 119 đến điều 120), tiếp tục khăng định Hiến pháp là luật cơ bản của nước CHXHCN Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất, mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp; đồng thời bổ sung và quy định rõ mọi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý; quy định trách nhiệm của Quốc hội và các cơ quan nhà nước cũng như toàn dân trong việc bảo vệ Hiến pháp. Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam 3.
Bản chất của nhà nước Việt Nam Bản chất nhà nước là vẫn đề quan trọng, vì nó thể hiện nội dung giai cấp của chính quyền. Chính quyên ấy thuộc về tay ai? Phuc vu quyén lợi cho ai? Nhà nước ta từ khi ra đời năm 1945 cho đến nay, luôn thể hiện bản chất là Nhà nước của Nhân dân, phục vụ lợi ích của nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Điều này đã được thể hiện trong các hiến pháp như: Hiến pháp 1946; Hiến pháp 1959: Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bd sung năm 2001) và hiện nay là Hiến pháp 2013. Bản chất Nhà nước ta được ghi nhận trong Điều2 Hiến pháp 2013 “1.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyên lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nên tảng là liên mình giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông đân và đội ngũ trí thức. ” Bản chất Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân được thể hiện ở những đặc trưng cơ bản như sau: - Quyên lực Nhà nước là thuộc về Nhân dân: dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhân dân ta đã tiến hành cuộc đầu tranh cách mạng, vượt qua bao sự hy sinh gian khổ để lập nên nhà nước kiểu mới là nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì vậy, Nhân dân chính là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước.
117 Tại Điều 6 Hiến pháp 2013 quy định: “Mhán dân thực hiện quyên lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Khi quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân thì giữa Nhà nước với công dân có mối quan hệ bình đăng, có các quyền và nghĩa vụ tương ứng đối với nhau. Quyền của công dân là nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước, đồng thời quyền của Nhà nước là nghĩa vụ của công dân. - Nhà nuóc ta là nhà nước của tất cả các dân tộc trên lãnh thổ Vi iét Nam: đại đoàn kết dân tộc là truyền thống lâu đời của Nhân dân ta.
Tir khi ra đời, Nhà nước ta luôn bảo đảm thực hiện chính sách bình đăng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cam moi hanh vi ky thi, chia rẽ các dân tộc; từng bước nâng cao đời sống vật chất và tỉnh thần của đồng bảo các dân tộc thiểu số. - Nhà nước ta là nhà nước dân chit: moi quyền lực đều xuất phat tir Nhân dân. Bộ máy Nhà nước là do Nhân dân tổ chức ra. Nhân dân có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Các cơ quan nhà nước phải báo cáo hoạt động trước Nhân dân. Nhân dân thực sự tham gia vào quản lý Nhà nước dựa trên phương châm: “Đán biết, dâm bàn, dân làm, dân kiểm tra” - Nhà nước thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình hữu nghị với phương châm làm bạn với tất cả các nước trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị. - Mọi nhiệm vụ, chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước đều hướng đến mục tiêu vì lợi ích của Nhân dân, nhằm xây dựng một đất nước Việt Nam “Dan giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện ” 2. Bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Bộ máy nhà nước XHƠN Việt Nam là một hệ thốngg gồm nhiều cơ quan thuộc nhiều ngành, nhiều cấp khác nhau, được thành lập, tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung thống nhất tạo thành một cơ chế đồng bộ, nhằm thực hiện những nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước.
Theo quy định của Hiến pháp 2013, bộ máy nhà nước ta có những hệ thống cơ 118 quan: cơ quan quyên lực; cơ quan quản lý nhà nước; cơ quan xét xử; cơ quan kiêm sát và Chủ tịch nước. QUOC HQI m (UBTVQH) UBTVQH Ỷ CHỦ TỊCH NƯỚC |, | I i T Ỉ | i +1 4L CHINH PHU —| TANDTC |i} VKSNDTC |A] HPBCQGG || KTNN i ! i Ị i At _4 | | i \ | |. Ị | >| TANDCC VKSNDCC |4 I Ị ! I !