Giáo trình pháp luật đại cương phần 1 ths bùi thị thanh tuyết chủ biên

Giáo trình nghiên cứu pháp luật đại cương phần 1 ths bùi thị thanh tuyết chủ biên, trình bày lý thuyết rõ ràng, minh họa ví dụ thực tế, phù hợp sinh viên luật học.

Trường đại học

Trường Đại học Thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2017

123
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI GIỚI THIỆU

1. CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC - NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC

1.1.1. Nguồn gốc, bản chất, đặc điểm của nhà nước

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình pháp luật đại cương của ThS

Giáo trình pháp luật đại cương phần 1 do ThS. Bùi Thị Thanh Tuyết chủ biên là một tài liệu quan trọng cho sinh viên ngành thương mại tại Trường Đại học Thương mại Hà Nội. Giáo trình này không chỉ cung cấp kiến thức cơ bản về pháp luật mà còn giúp sinh viên hiểu rõ hơn về hệ thống pháp luật Việt Nam. Nội dung giáo trình được biên soạn dựa trên chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, bao gồm nhiều chương khác nhau, từ lý luận cơ bản về nhà nước đến các nội dung cụ thể của luật dân sự, hành chính và hình sự.

1.1. Mục tiêu và đối tượng của giáo trình pháp luật đại cương

Giáo trình pháp luật đại cương nhằm cung cấp cho sinh viên những kiến thức nền tảng về pháp luật, giúp họ có khả năng áp dụng vào thực tiễn. Đối tượng chính của giáo trình là sinh viên cử nhân thương mại, những người cần nắm vững các quy định pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.

1.2. Cấu trúc và nội dung chính của giáo trình

Giáo trình được chia thành 5 chương, mỗi chương tập trung vào một khía cạnh khác nhau của pháp luật. Chương I đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước, trong khi các chương tiếp theo đi sâu vào các lĩnh vực pháp luật cụ thể như dân sự, hành chính và hình sự.

II. Những thách thức trong việc giảng dạy pháp luật đại cương

Việc giảng dạy pháp luật đại cương gặp nhiều thách thức, từ việc cập nhật nội dung đến việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thay đổi nhanh chóng của hệ thống pháp luật Việt Nam, đòi hỏi giảng viên và sinh viên phải thường xuyên cập nhật kiến thức mới. Ngoài ra, việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn cũng là một thách thức lớn, khi sinh viên cần phải hiểu rõ cách thức hoạt động của pháp luật trong đời sống hàng ngày.

2.1. Khó khăn trong việc cập nhật nội dung giảng dạy

Hệ thống pháp luật Việt Nam thường xuyên thay đổi, điều này tạo ra áp lực lớn cho giảng viên trong việc cập nhật nội dung giảng dạy. Việc không theo kịp các thay đổi này có thể dẫn đến việc sinh viên không nắm bắt được kiến thức chính xác.

2.2. Thách thức trong việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn

Sinh viên thường gặp khó khăn trong việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn. Việc thiếu kinh nghiệm thực tế có thể khiến họ không hiểu rõ cách thức hoạt động của pháp luật trong đời sống hàng ngày, từ đó ảnh hưởng đến khả năng làm việc sau này.

III. Phương pháp giảng dạy hiệu quả trong giáo trình pháp luật đại cương

Để nâng cao hiệu quả giảng dạy, giáo trình pháp luật đại cương cần áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại. Việc sử dụng công nghệ thông tin, các tình huống thực tế và các bài tập nhóm có thể giúp sinh viên hiểu rõ hơn về nội dung bài học. Ngoài ra, việc khuyến khích sinh viên tham gia thảo luận và tranh luận cũng là một phương pháp hiệu quả để nâng cao khả năng tư duy pháp lý.

3.1. Sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy

Việc áp dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy giúp sinh viên tiếp cận thông tin nhanh chóng và hiệu quả hơn. Các bài giảng trực tuyến, video và tài liệu điện tử có thể làm phong phú thêm nội dung học tập.

3.2. Khuyến khích thảo luận và tranh luận

Khuyến khích sinh viên tham gia thảo luận và tranh luận về các vấn đề pháp lý giúp họ phát triển tư duy phản biện và khả năng lập luận. Điều này không chỉ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về nội dung bài học mà còn rèn luyện kỹ năng giao tiếp.

IV. Ứng dụng thực tiễn của giáo trình pháp luật đại cương

Giáo trình pháp luật đại cương không chỉ là tài liệu học tập mà còn có ứng dụng thực tiễn trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Sinh viên sau khi hoàn thành khóa học có thể áp dụng kiến thức đã học vào công việc thực tế, từ việc tư vấn pháp lý đến việc tham gia vào các hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, giáo trình cũng giúp sinh viên hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình trong xã hội.

4.1. Ứng dụng trong lĩnh vực tư vấn pháp lý

Sinh viên có thể áp dụng kiến thức từ giáo trình vào việc tư vấn pháp lý cho các cá nhân và tổ chức. Việc hiểu rõ các quy định pháp luật giúp họ đưa ra các giải pháp hợp lý và hiệu quả.

4.2. Vai trò trong hoạt động kinh doanh

Kiến thức pháp luật giúp sinh viên có thể tham gia vào các hoạt động kinh doanh một cách tự tin hơn. Họ có thể hiểu rõ các quy định liên quan đến hợp đồng, thương mại và các vấn đề pháp lý khác trong kinh doanh.

V. Kết luận và tương lai của giáo trình pháp luật đại cương

Giáo trình pháp luật đại cương của ThS. Bùi Thị Thanh Tuyết là một tài liệu quý giá cho sinh viên ngành thương mại. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, giáo trình cần được cập nhật và hoàn thiện thường xuyên. Tương lai của giáo trình phụ thuộc vào sự đóng góp ý kiến từ giảng viên và sinh viên, nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập.

5.1. Tầm quan trọng của việc cập nhật giáo trình

Việc cập nhật giáo trình là cần thiết để đảm bảo nội dung luôn phù hợp với thực tiễn. Điều này giúp sinh viên nắm bắt được các quy định pháp luật mới nhất và áp dụng vào thực tiễn.

5.2. Đóng góp ý kiến từ giảng viên và sinh viên

Sự đóng góp ý kiến từ giảng viên và sinh viên là rất quan trọng trong việc hoàn thiện giáo trình. Những ý kiến này sẽ giúp nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập, từ đó tạo ra những thế hệ sinh viên có kiến thức pháp luật vững vàng.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I NHŨNG VÂN ĐỂ LÝ LUẬN cơ BẢN VỂ NHÀ NƯỚC - NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM I. NHŨNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN Cơ BẢN VỂ NHÀ NƯỚC 1. Nguồn gốc, bản chất, đặc điểm của nhà nước al Nguồn gốc của nhà nước Nhà nước là một hiện tượng xã hội đa dạng và phức tạp liên quan chặt chẽ đến lợi ích của các giai cấp, tầng lớp dân tộc. Nhà nước cũng như pháp luật là những hiên tượng tổn tại một cách khách quan, nhưng trong lịch sử tư tưởng chính trị pháp lý có nhiều cách lý giải khác nhau về sự xuất hiện của nhà nước và pháp luật.

Đã có nhiều quan điểm khác nhau về nhà nước. Quan điểm phi Mác-xít về nguồn gốc nhà nước, đã đưa ra nhiều thuyết khác nhau như: thuyết khế ước xã hội, đa số các học giả tư sản đều cho rằng sự ra đời của nhà nước là sản phẩm của một khế ước hay gọi là (hợp đồng) được ký kết giữa những con người sống trong trạng thái tự nhiên không có nhà nước. Tiêu biểu cho thuyết khế ước xã hội là các nhà tư tưởng tư sản như Jean Bodin (1530-1596), John Locke (1632-1704), Denis Diderot (1713-1784), Groxi, Rut xo. Thuyết bạo lực thì cho rằng, nhà nước xuất hiện trực tiếp từ việc sử dụng bạo lực của thị tộc này đối với thị tộc khác, thị tộc chiến thắng đặt ra hê thống cơ quan đặc biệt để nô dịch kẻ chiến bại.

Đại diên cho thuyết này Gumlovich, E.Đuyring, và một số học thuyết khác. Tất cả những quan điểm trên đều xem xét sự ra đời của nhà nước tách rời những điều kiên vật chất của xã hội, tách rời những nguyên 5 nhân kinh tế. Theo họ, nhà nước không thuộc giai cấp nào, nhà nước là của tất cả mọi người và nhà nước tồn tại mãi mãi cùng với xã hội. Quan điểm Mác-xít đã kế thừa những thành tựu nghiên cứu khoa học của xã hội loài người các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin lần đầu tiên đã giải thích đúng đắn rằng nhà nước không phải là hiên tượng vĩnh cửu, bất biêh.

Nhà nước là lực lượng nảy sinh từ xã hội, là sản phẩm của xã hôi loài người. Nhà nước xuất hiên khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định và tiêu vong khi những điều kiên khách quan cho sự tổn tại mất đi. Những luận điểm khoa học về sự xuất hiên nhà nước được Ph.Àngghen trình bày trong tác phẩm nổi tiếng "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước" và được V.Lênin phát triển thêm trong tác phẩm "Nhà nước và cách mạng". Chế độ cộng sản nguyên thuỷ là hình thái kinh tế - xã hội đầu tiên trong lịch sử xã hội loài người, ở đó không có quyền lực nhà nước và pháp luật nhưng xã hội cộng sản nguyên thuỷ đã chứa đựng những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước.

Tế bào cơ sở của xã hội cộng sản nguyên thuỷ là thị tộc. Thị tộc là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài được xuất hiên khi xã hội đã phát triển tới một trình độ nhất định. Đây là một bước tiến trong lịch sử phát triển của nhân loại. Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ chỉ mới tổn tại những quy tắc xã hôi như đạo đức, tập quán, tôn giáo.

để điều chỉnh các quan hê của các thành viên trong 'xã hội. Các quy phạm xã hội trên thể hiện ý chí chung của các thành viên trong xã hội được mọi người tự giác tuân theo. Việc tuân thủ các quy tắc này trở thành thói quen của mọi người, nhưng nó cũng được bảo đảm thực hiên bởi sự cưỡng chế của cả thị tộc. Sự tan rã của tổ chức thị tộc đã làm xuất hiên nhà nước.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất trong quá trình lịch sử lâu dài với việc hoàn thiên công cụ lao động, lĩnh hội những kỹ năng lao động mới, nâng cao năng suất lao động kéo theo sự phát triển trình độ vật chất, tinh thần của xã hội, đã dần dần tạo ra những tiền đề cho sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thuỷ. Lịch sử xã hội cổ đại đã trải qua ba lần 6 phân công lao động xã hội, mỗi lần tạo ra tiền đề mới dẫn đêh sự tan rã của xã hội cộng sản nguyên thuỷ.1 - Lần phân công lao động xã hội thứ nhất, chăn nuôi tách khỏi trồng trọt. Việc con người thuần dưỡng được đông vật đã mở ra một kỷ nguyên mới trong sự phát triển của xã hội loài người. Sau lần phân công lao động đầu tiên cả chăn nuôi và trồng trọt đều phát triển.

Những tù binh chiến tranh trước đó đều bị các thị tộc, bộ lạc giết đi, nhưng khi chăn nuôi và trồng trọt đều phát triển được giữ lại để lao đông và biến họ thành nô lệ. Sau lần phân công lao đông đầu tiên, chế độ tư hữu xuất hiên, xã hội phân chia thành các giai cấp chủ nô và nô lê. - Lần phân công lao động xã hội lần thứ hai, thủ công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp. Xã hôi tiếp tục phát triển cùng với sự tồn tại của chăn nuôi và trồng trọt, thủ công nghiệp cũng được phát triển mạnh mẽ.

Việc tìm ra kim loại đã hình thành nghề chế tạo đồ kim loại, nghề dệt, làm đồ gốm phát triển tạo ra những sản phẩm hoàn hảo. Tất cả những điều đó dẫn đêh thủ công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp. Lần phân công lao động xã hội lần thứ hai dẫn đến tầng lớp nô lê ngày càng phát triển và trở thành một lực lượng phổ biến. Quá trình phân hoá xã hội được đẩy nhanh, sự phân biệt giàu nghèo mâu thuẫn giai cấp ngày thêm sâu sắc.

- Lần phân công lao động xã hội lần thứ ba, thương nghiệp tách ra thành một ngành hoạt động độc lập. Nền sản xuất phát triển vói nhiều ngành nghề chuyên môn làm xuất hiện nhu cầu ưao đổi và nền sản xuất hàng hoá đã ra đời. Sự phát triển nền sản xuất hàng hoá dẫn đêh sự phát triển của thương mại và thương mại đã tách ra thành một ngành hoạt động độc lập. Lần phân công lao đông thứ ba rất quan trọng.

Nó sinh ra tầng lớp thương gia chỉ làm công việc trao đổi sản phẩm, không tham gia vào sản xuất' nhưng lại nắm quyền lãnh đạo sản xuất và bắt những người sản xuất 1 V. Toàn tập, Tập 29, NXB. Sự thật, Hà Nội, 1972, ư. 7 phụ thuộc mình về mặt kinh tế.

Nghề thương mại phát triển dẫn đến sự xuất hiện đổng tiền và chính các thương gia đã làm đảo lộn đời sống thị tộc, phá vỡ sự tồn tại của thị tộc, của cải được tích tụ, tập trung vào tay một thiểu số người trong xã hội. Từ đó sự phân hoá giữa chủ nô và nô lê càng thêm sâu sắc. Quyền lực công cộng của thị tộc và hệ thống quản lý được toàn xã hội tổ chức ra nhằm bảo vê lợi ích của mọi thành viên thị tộc không còn thích hợp nữa. Để điều hành quản lý xã hội mới đòi hỏi phải có một tổ chức mới khác trước về chất.

Tổ chức đó do toàn bộ những điều kiện tồn tại của nó quy định chỉ đại diên cho quyền lực của giai cấp nắm ưu thế về kinh tế và nó nhằm thực hiên sự thống trị giai cấp, dập tắt sự xung đột công khai giữa các giai cấp hoặc giữ cho chúng ở trong vòng trật tự. Tổ chức đó được gọi là nhà nước, nhà nước đã ra đời. Như vậy, nhà nước xuất hiên trực tiếp từ sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thuỷ. Nhà nước là một bộ phận đặc biệt để đảm bảo thống trị về kinh tế, để thực hiện quyền lực về chính trị và thực hiện sự tác động về tư tưởng đối với quần chúng.

Ngoài ra nhà nước còn giải quyết nhiều vấn đề nảy sinh của xã hội. Sự xuất hiên nhà nước ở các vùng, các dân tộc khác nhau cũng có những đặc điểm khác nhau.Ângghen đã chỉ ra ba hình thức cơ bản của sự xuất hiện Nhà nước: Nhà nước Aten; Nhà nước La Mã và Nhà nước Giécmanh. bỉ Bản chất của nhà nước Nhà nước là một hiện tượng phức tạp và đa dạng, là sản phẩm của xã hội có giai cấp và là tổ chức quyền lực chính trị đặc biệt. Do vậy, bản chất giai cấp của nhà nước vừa mang bản chất chính trị vừa mang bản chất xã hội.

- Bản chất chính trị: V.I Lênin viết: "Nhà nước là bộ máy để cho giai cấp này áp bức giai cấp khác, một bộ máy để duy trí sự thống trị của một giai cấp đối với các giai cấp bị lệ thuộc khác"2. Lênin toàn tập, tập 33, tr 87, NXB. 8 Trong xã hội có đối kháng giai cấp, quyền lực chính trị mang nội dung giai cấp rất hẹp. Quyền lực đó chỉ thuộc về giai cấp thống trị.

Nó thể hiện lợi ích giai cấp đặc biệt là lợi ích kinh tế. Thông qua quyền lực chính trị, giai cấp thống trị bắt các giai cấp khác phục tùng ý chí của mình. Quyền lực chính trị như C.Àngghen đã chỉ rõ: "Thực chất là bạo lực có tổ chức của một giai cấp khác"3. Như vậy, bạo lực có tổ chức của giai cấp thống trị đối với những giai cấp khác hay chuyên chính của giai cấp thống trị cấu thành bản chất giai cấp của nhà nước bóc lột.

Trong các xã hội bóc lột, chuyên chính là sự đàn áp của thiểu số giai cấp bóc lột đối với đa số những giai cấp bị bóc lột. Khi thiết lập tổ chức chính trị đặc biệt, nhà nước để trấn áp giai cấp đối kháng thì giai cấp thống trị đã thực hiên nền chuyên chính của mình đối với giai cấp khác, dùng ý chí của mình trói buộc các giai cấp khác. Đó là thống trị chính trị, sự chuyên chính của giai cấp thống trị. - Bản chất xã hội: Dù trong xã hội nào Nhà nước cũng một mặt bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị (lực lượng) cầm quyền, nhưng đồng thời cũng phải chú ý tới lợi ích chung của toàn xã hội.

Thực tiễn lịch sử đã chỉ ra rằng, một nhà nước sẽ không thể tồn tại nếu nó chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị mà không tính đến lợi ích của giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội. Vì vậy, ngoài tư cách là công cụ duy trì, bảo vệ sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác, nhà nước còn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn bao gồm mọi công dân thuộc mọi giai cấp, tầng lớp, dân tộc, là phương tiện tổ chức bảo đảm lợi ích chung của xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ