mở đầu của thời đại Phục hưng vào nửa cuối thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XIX. Điều này được F.Engel viết trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên - đó là một thời đại cần có những con người khổng lồ và đã sinh ra những con người khổng lồ: khổng lồ về năng lực suy nghĩ, về nhiệt tình và tính cách, khổng lồ về mặt có lắm tài, lắm nghề và về mặt học thức sâu rộng. Kết quả là quá trình tích lũy tư duy, tri thức của Xã hội học xem xét bản chất con người, xã hội, mối quan hệ giữa người và người đưa đến hình thành lí luận tri thức xã hội học. Ở thế kỷ XIX, phương pháp nghiên cứu của xã hội học cũng đã chín muồi: đi từ cảm giác, cảm tính đến phương pháp lịch sử, đối chiếu lịch sử của Marx và thực nghiệm xã hội; nửa sau thế kỷ XIX đã đạt được trình độ chín muồi.
b/ Phát triển khoa học xã hội học trên cơ sở sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào giữa thế kỷ XIX Khoa học tự nhiên: Vào giữa thế kỷ XIX có ba phát kiến quan trọng: định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng; học thuyết tế bào và thuyết tiến hóa đã làm cho tư duy của con người được mở rộng không có giới hạn, vượt hẳn thời cổ đại; lò xo trí tuệ đã đạt đến đỉnh điểm và bung ra vào giữa thế kỷ XIX; từ đó khoa học kỹ thuật phát triển không thể tưởng tượng được; ví dụ: Năm 2000 xuất hiện bản đồ Gen nhưng còn hạn chế, đến năm 2001 phát hiện đầy đủ. Vì vậy nó đã để lại những giá trị mang tính vĩnh cửu không thể thay thế được. Ví dụ: Khi nghiên cứu các chế độ kinh tế - xã hội, A. Rcardo (1772-1823) đã cho rằng các cá nhân phải được tự do thoát khỏi những ràng buộc và hạn chế bên ngoài để tự do cạnh tranh.
Có như vậy mới tạo ra được một xã hội tốt đẹp hơn. Nhìn chung các quan niệm kinh tế học đã gợi mở ra cách nhìn duy vật biện chứng đối với các vấn đề xã hội đang nảy sinh do nền đại công nghiệp đang ngày càng mở rộng, sự phân hóa xã hội ngày càng tăng. Khoa học xã hội: Sự ra đời của Triết học cổ điển Đức (Hegel); Kinh tế chính trị Anh (S.mith, Ricardo); Chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán đã làm cho con người đạt một trình độ phát triển nhất định, xem xét xã hội ở một trình độ cao hơn, toàn diện hơn. Chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở khoa học: Tính khoa học và mức độ sâu sắc của các công trình nghiên cứu xã hội học trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội được quy định bởi khuynh hướng phương pháp luận và lý luận của các công trình đó, bởi quan niệm duy vật biện chứng về xã hội và về sự phát triển của xã hội, bởi việc sử dụng hệ thống khái niệm 23 của chủ nghĩa duy vật lịch sử, bởi khả năng “gắn” những khái niệm cá biệt hơn, được đề ra trong xã hội học, vào hệ thống các khái niệm cơ bản.
Xã hội học Mác - Lênin dựa trên chủ nghĩa duy vật lịch sử với tính cách là lý luận xã hội học chung và phương pháp luận nhận thức xã hội. Chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở lý luận của những công trình nghiên cứu xã hội học về các lĩnh vực khác nhau của các quan hệ xã hội một cách trực tiếp cũng như gián tiếp, thông qua các lý luận xã hội học chuyên ngành. Lý luận hình thái kinh tế - xã hội là cơ sở để nghiên cứu các vấn đề xã hội. Đó là một tổng thể các hình thức khác nhau các quan hệ xã hội của một phương thức sản xuất nhất định trong lịch sử.
Các quan hệ xã hội trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định đều ở trong trạng thái tương tác biện chứng. Các hệ thống khác nhau của những quan hệ xã hội và các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội trở thành đối tượng của các lý luận xã hội học chuyên ngành. Cấp độ này của xã hội học Mác - Lênin bao gồm việc nghiên cứu những hình thức quan hệ xã hội như lối sống, cơ cấu xã hội, cá nhân trong mối quan hệ qua lại với xã hội, những lĩnh vực của đời sống xã hội như lao động, sinh hoạt, văn hóa; gia đình; giáo dục, hệ thống phân bổ dân cư,… Trong khoa học xã hội học, việc tách riêng dưới hình thức độc lập “thuần túy” các hình thức quan hệ xã hội và các lĩnh vực đời sống xã hội khác nhau là cần thiết cho mục đích nghiên cứu: mặc dù tất cả đều có mối quan hệ nội tại với nhau, song mỗi lĩnh vực lại có nét đặc thù của nó thể hiện ở chỗ các lý luận xã hội học chuyên ngành tạo ra một hệ thống khái niệm riêng. Nghiên cứu xã hội học trong một lĩnh vực nào đó không những phải dựa vào lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà còn phải dựa vào những lý luận xã hội học chuyên ngành.
Các lý luận chuyên ngành này làm khâu trung gian gắn lý luận xã hội học chung với việc nghiên cứu xã hội học các hiện tượng của đời sống xã hội. Nhờ hệ thống khái niệm của các lý luận này mà người ta thực hiện bước chuyển từ khái niệm lý luận chung sang những khái niệm thao tác có thể kiểm tra được bằng kinh nghiệm. Các lý luận xã hội học chuyên ngành dựa trực tiếp vào các công việc nghiên cứu xã hội học, kể cả dựa vào việc điều tra thống kê, quan sát có hệ thống, trưng cầu ý kiến, phỏng vấn, lập phiếu trưng cầu ý kiến v. xây dựng và kiểm tra các thuyết và mô hình của mình dựa trên cơ sở những tiền đề phương pháp luận, một mặt xuất phát từ những lý luận đó, và mặt khác, từ sự phân tích của tài liệu thực tế.
24 Công việc nghiên cứu xã hội học được tiến hành bằng cách thu thập hệ thống hóa, nhận thức về mặt lý luận các hiện tượng xã hội, cung cấp tài liệu để phát triển các lý luận xã hội học chuyên ngành, để giải quyết những vấn đề lý luận của nó. Người ta gọi những lý luận chuyên ngành đó là những lý luận “cấp trung gian”, bởi lẽ, một mặt chúng là cơ sở phương pháp luận nghiên cứu xã hội học, mặt khác cung cấp tài liệu cụ thể cho lý luận xã hội học chung, bảo đảm cho lý luận đó không ngừng phát triển. Có thể so sánh mối quan hệ qua lại giữa các trình độ kiến thức khác nhau trong xã hội học cũng như trong: vật lý, một ngành khoa học rất chung về tự nhiên; trong đó lý thuyết chung (thí dụ, cơ học lý thuyết, nhiệt động học, điện động học, lý thuyết lượng tử, v.) gắn liền với thực nghiệm thông qua các lý thuyết riêng trong các lĩnh vực khác nhau của tri thức vật lý và vật lý - kỹ thuật. Việc nghiên cứu xã hội học sẽ thực hiện tốt chức năng nhận thức của mình trong trường hợp nó không bị giới hạn bởi sự xác nhận và bởi sự hệ thống hóa các sự kiện song nó giúp phát hiện những quy luật nội tại và những xu hướng phát triển của các hiện tượng được nghiên cứu, gắn các hiện tượng đó trong mối quan hệ với các xu hướng và các quy luật khách quan của sự phát triển xã hội.
Việc nghiên cứu các quy luật xã hội khách quan các quy luật tạo thành cơ sở lý luận chung của khoa học xã hội Mác - Lênin và nghiên cứu xã hội học không tách rời nhau, mà là một thể thống nhất biện chứng chặt chẽ, làm phong phú và bổ sung cho nhau. Các lý luận xã hội học chuyên ngành đóng vai trò khâu trung gian giữa lý luận khoa học xã hội nói chung và nghiên cứu xã hội nói riêng. Chủ nghĩa duy vật lịch sử là lý luận xã hội học và phương pháp luận nhận thức xã hội nói chung, đồng thời là phương pháp luận nghiên cứu xã hội học nói riêng. Quan điểm nhận thức xã hội trên lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử, trước hết là quan điểm duy vật, theo đó sự tồn tại xã hội là cái thứ nhất, còn ý thức xã hội là sự phản ánh của nó, là cái thứ hai.
Khi giải thích các hiện tượng xã hội và những biến đổi của nó, chủ nghĩa duy vật lịch sử xuất phát không từ bản nguyên thần linh hay ý niệm tuyệt đối như chủ nghĩa duy tâm khách quan, không phải từ ý thức và ý chí của các cá nhân riêng lẻ như chủ nghĩa duy tâm chủ quan, mà là từ những điều kiện hiện thực của sự hoạt động của con người trong từng thời đại cụ thể. “Không phải ý thức quyết định đời sống, mà là đời sống quyết định ý thức. Trong phương pháp xem xét thứ nhất, người ta xuất phát từ ý thức, coi ý thức đó như là một cá thể sống; trong phương thức thứ hai, phù hợp 25 với đời sống hiện thực, người ta xuất phát từ bản thân cá thể sống thực sự và coi ý thức chỉ như là ý thức của các cá thể đó”. Đồng thời quan điểm duy vật lịch sử đối với xã hội, đối với thực tại xã hội là quan điểm biện chứng.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử thể hiện với tính cách là phương pháp luận khoa học để nhận thức và giải thích các hiện tượng và các quá trình của đời sống xã hội trong mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau có tính chất quy luật giữa chúng, là ngưỡng vọng muốn đi tìm nguồn gốc của các quá trình xã hội không phải ở ngoài các quá trình đó, mà ở trong những mâu thuẫn biện chứng khách quan nội tại của chúng. Phương pháp luận duy vật lịch sử về nhận thức xã hội là phương pháp luận duy nhất khoa học phù hợp với những quy luật khách quan của bản thân thực tại xã hội. Plê-kha-nốp đã nhận xét: “Nhà xã hội học khách quan là con người đặt cơ sở những dự tính của mình trên tiến trình phát triển xã hội hợp với quy luật. Còn nhà xã hội họ chủ quan xua đuổi tính hợp quy luật vì “cái mong muốn”, cho nên nhà xã hội học đó không có lối thoát nào khác ngoài việc trông chờ vào tính ngẫu nhiên”.
Là phương pháp luận nhận thức và giải thích các hiện tượng và các quá trình xã hội, chủ nghĩa duy vật lịch sử dựa vào cơ sở vững chắc của các sự kiện.