Chương 1 Tổng quan về kế toán 1.1 Lịch sử ra đời của kế toán: - Kế toán ra đời cùng với sự hình thành và phát triển của KTXH loài người. Trong quá trình lao động sản xuất con người thấy phải rất vất vả để tạo ra của cải, bên cạnh đó còn có nhiều hoàn cảnh thực tế sảy ra: mất mát, hao hụt tài sản; hay con người mất niềm tin ở nhau…Vì vậy họ đã phải tìm cách nào đó để quản lý, bảo vệ tài sản mình làm ra, mình có được. Đó chính là dấu hiệu của kế toán ra đời. - Qua nghiên cứu khảo cổ học, người ta tìm thấy nhiều dấu tích chứng minh Kế toán có từ mấy ngàn năm trước công nguyên: Những dấu tích bằng gốm, sành, giấy… trên đó có khắc, ghi về việc cho vay, thiếu nợ, tăng giảm tài sản, trao đổi hàng hóa… - Lúc đầu kế toán chỉ ghi đơn, cho đến TK XV (1492-1495) nhà toán học người ý Luca Pacioli đã viết những cuốn sách trình bày về phương pháp ghi kép (Sau này người ta gọi là hệ thống kế toán kép).
- TK XVI, kế toán kép được phát triển và hoàn thiện dần. - Ngày nay kế toán thực sự phát triển và trở thành công cụ không thể thiếu trong nền kinh tế xã hội.2 Định nghĩa kế toán - Theo luật kế toán: Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động. (Khoản 8, Điều 3, Luật kế toán VN số 88/2015/QH13) - Theo liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC): Kế toán là nghệ thuật ghi chép, phân loại và tổng hợp theo cách thức nhất định dưới hình thức tiền tệ về các nghiệp vụ các sự kiện mà chúng có ít nhất một phần tài chính và trình bày kết quả của nó cho người sử dụng. - Theo hiệp hội kế toán Mỹ: Kế toán là quá trình ghi nhận, đo lường và công bố các thông tin kinh tế giúp người sử dụng phán đoán và ra quyết định dựa trên thông tin này.3 Phân loại kế toán : * Căn cứ vào đối tượng sử dụng thông tin kế toán: Do có hai phạm vi phục vụ khác nhau của thông tin kế toán (Bên trong và bên ngoài đơn vị) nên kế toán được chia thành kế toán tài chính và kế toán quản trị.
- Kế toán TC: Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng BCTC cho đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị kế toán. (Khoản 9, Điều 3, Luật kế toán VN số 88/2015/QH13) - Kế toán QT: Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài Trang 1 Bộ môn Tài chính - kế toán Bài giảng Nguyên lý kế toán chính trong nội bộ đơn vị kế toán. (Khoản 10, Điều 3, Luật kế toán VN số 88/2015/QH13) Ngoài ra, Kế toán TC và Kế toán QT còn khác nhau ở nhiều khía cạnh như : Đặc điểm thông tin, tính chất pháp lý, hình thức báo cáo sử dụng. Kế toán tài chính Kế toán quản trị Đối tượng sử - Phục vụ cho bên trong và - Phục vụ cho bên trong DN là dụng thông tin bên ngoài DN chủ yếu (các nhà quản trị DN) Đặc điểm - Phản ánh quá khứ và hiện - Hướng về tương lai (Thông thông tin tại.
(Thông tin kinh tế, tài tin kinh tế, tài chính chưa xảy chính đã xảy ra) ra, hoạch định) Hình thức báo Báo cáo tài chính Báo cáo bộ phận cáo sử dụng Tính pháp lý - Mang tính pháp lý cao - Không mang tính pháp lý cao, Linh hoạt theo yêu cầu quản lý Thời hạn lập Định kỳ Thường xuyên báo cáo Giống nhau: KTTC và KTQT cùng nghiên cứu quá trình SXKD, cùng sử dụng hệ thống ghi chép ban đầu và cùng thể hiện trách nhiệm của người quản lý. * Căn cứ vào mức độ khái quát thông tin do kế toán cung cấp: Khi đó kế toán được chia thành kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết Kế toán tổng hợp phải thu thập, xử lý, ghi chép và cung cấp thông tin tổng quát về hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán. Kế toán tổng hợp sử dụng đơn vị tiền tệ để phản ánh tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản, tình hình và kết quả hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán. Kế toán tổng hợp được thực hiện trên cơ sở các thông tin, số liệu của kế toán chi tiết; Kế toán chi tiết phải thu thập, xử lý, ghi chép và cung cấp thông tin chi tiết bằng đơn vị tiền tệ, đơn vị hiện vật và đơn vị thời gian lao động theo từng đối tượng kế toán cụ thể trong đơn vị kế toán.
Kế toán chi tiết minh họa cho kế toán tổng hợp. Số liệu kế toán chi tiết phải khớp đúng với số liệu kế toán tổng hợp trong một kỳ kế toán.Vai trò của kế toán: Trang 2 Bộ môn Tài chính - kế toán Bài giảng Nguyên lý kế toán - Đối với doanh nghiệp: Kế toán cung cấp những tài liệu, những thông tin kinh tế đã diễn ra và đang diễn ra trong doanh nghiệp làm cơ sở để DN hoạch định chương trình hành động, phương hướng hoạt động trong tương lai. - Đối với Nhà Nước: Kế toán giúp cho Nhà Nước thực hiện công tác quản lý các doanh nghiệp tốt hơn, từ đó quản lý tốt nền kinh tế vĩ mô, đề ra những chủ trương chính sách phù hợp với sự phát triển của đất nuớc. Đối tượng sử dụng thông tin kế toán: - Các nhà quản lý doanh nghiệp: Để điều hành, quản lý, đưa ra chương trình hành động, lập kế hoạch.
- Các nhà đầu tư hiện tại và tương lai: Có nên đầu tư hay không? - Các tổ chức tín dụng : Có kế hoạch thu hồi nợ, cho vay thêm, vay theo hình thức nào… - Cơ quan Thuế, các cơ quan chức năng khác của Nhà nước : Thu thuế, phí, lệ phí. Thống kê, đánh giá kết quả kinh doanh ở tầm vĩ mô. - Người lao động : Quyền lợi của mình có được có thỏa đáng không ? Có nên tiếp tục làm việc ở đây không ?.Đối tượng của kế toán : Đối tượng của kế toán thuộc đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh (ngoại trừ các tổ chức tín dụng, bảo hiểm chứng khoán và đầu tư tài chính): Là những nội dung mà kế toán phải thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin. - Tình hình tài chính: Tài sản, nguồn vốn.
- Tình hình kinh doanh (sự vận động của TS, nguồn vốn): Doanh thu, thu nhập, chi phí, kết quả kinh doanh. - Và tình hình khác : Những mối quan hệ - kinh tế pháp lý ngoài tài sản của đơn vị. Tình hình tài chính: a. Tài sản: là nguồn lực do doanh nghiệp nắm quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai.
Toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được chia làm 2 loại: - Tài sản ngắn hạn: Tài sản ngắn hạn là tài sản của DN có thời gian sử dụng hoặc luân chuyển trong vòng 1 năm (12 tháng) hoặc trong 1 chu kỳ kinh doanh. Bao gồm: + Tiền và tương đương tiền, + Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn : Chứng khoán kinh doanh, Đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn, Dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh. + Các khoản phải thu ngắn hạn: Thu của khách hàng, thu nội bộ, trả trước cho người bán ngắn hạn, phải thu theo tiến độ kế hoach HĐXD,…, phải thu khác, dự phòng nợ phải thu NH khó đòi. + Hàng tồn kho: Nguyên liệu vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong kho (không bao gồm thiết bị, vật tư, phụ tùng thay thế dài hạn), thành phẩm, hàng Trang 3 Bộ môn Tài chính - kế toán Bài giảng Nguyên lý kế toán hóa tồn kho, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang (trong vòng 12 tháng hoặc 1 chu kỳ kinh doanh), hàng mua đang đi trên đường, hàng gửi đi bán, hàng hóa kho bảo thuế, dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
+ Các tài sản ngắn hạn khác: Chi phí trả trước ngắn hạn, Thuế GTGT được khấu trừ, thuế và các khoản phải thu nhà nước, Tài sản ngắn hạn khác: Tài sản thiếu chờ xử lý; tạm ứng; cầm cố, thế chấp, ký quỹ, ký cược ngắn hạn… - Tài sản dài hạn: Tài sản dài hạn gồm những nguồn lực DN đang nắm giữ, có thời gian sử dụng hoặc luân chuyển trên 1 năm (trên 12 tháng) hoặc dài hơn 1 chu kỳ kinh doanh. Bao gồm: + Các khoản phải thu dài hạn : PT khách hàng dài hạn, trả trước cho người bán dài hạn, PT nội bộ dài hạn, Vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc, dự phòng nợ phải thu DH khó đòi, phải thu dài hạn khác. + Tài sản cố định : TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính. + Chi phí dở dang dài hạn : Chi phí xây dựng cơ bản dở dang; Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang dài hạn.
+ Bất động sản đầu tư + Các khoản đầu tư tài chính dài hạn : Đầu tư vào công ty con, cty liên kết, liên doanh, đầu tư dài hạn khác, dự phòng đầu tư tài chính dài hạn. + Các tài sản dài hạn khác : CP trả trước dài hạn ; TS thuế thu nhập hoãn lại ; cầm cố, thế chấp, ký quỹ, ký cược dài hạn ; TS dài hạn khác. Nguồn vốn: được biểu hiện là nguồn gốc hình thành nên các tài sản của DN. Nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm: - Nợ phải trả: là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của mình.
Bao gồm các khoản nợ tiền vay, các khoản nợ phải trả cho người bán, cho Nhà Nước, cho công nhân viên và các khoản phải trả khác. Nợ phải trả của doanh nghiệp được chia ra: nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. + Nợ ngắn hạn: là các khoản nợ mà doanh nghiệp còn phải trả có thời hạn trong một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp hoặc trong vòng 12 tháng.