mở đầu chia làm ba loại: tự sự, trữ tình, kịch ?. Sau Aristote nhiều nhà lí luận khác vẫn kế thừa cách chia ba, mặc dù tiêu chí phân loại có khác. Hegel trong sich Mr hoc lan dau tién sit dung mối quan hệ chủ - khách quan để giải thích ba loại. Sử thi là kể một cách khách quan, trữ tình biểu hiện một cách chủ quan, còn kịch thì kết hợp biểu diễn khách quan và bộc lộ bằng lời nói một cách chủ quan.
Theo ông đó là quá trình từ chính để (sử thị) qua phản để (trữ tình) và tạo thành hợp để (kịch). Đến thế kỉ XIX, nhà lí luận văn học Nga là Belinski lí giải cách chia ba một cách thấu triệt từ góc độ nhận thức: “chia thơ ca (văn học) làm ba loại: trữ tình, tự sự, kịch là xuất phát từ ý nghĩa của việc nhận thức chân lí, cũng tức là trên tinh thần nhận thức - xuất phát từ mối quan hệ qua lại giữa chủ thể đối với đổi tượng - khách thể nhận thức. Thơ trữ tình biểu hiện phương diện chủ quan của một con người, đem con người bên trong phơi bày ra trước mắt chúng ta, do đó toàn bộ là cảm xúc, tình cảm, âm nhạc. Thơ tự sự là sự miêu tả khách quan một sự kiện đã hoàn thành, là nhà nghệ sĩ đã chọn cho chúng ta một quan điểm.
thích hợp nhất để bày tỏ tất cả mọi phương diện, làm thành một bức tranh cho chúng ta xem. Thơ kịch là sự điểu hoà hai phương điện trên, chủ quan, trữ tình và khách quan, tự sự. Trình bày ra trước mắt chúng ta, không phải là sự kiện đã hoàn thành, mà là đang thực hiện; không phải nhà thơ đang thông báo sự việc cho ta, mà là từng nhân vật xuất hiện nói với chúng ta”), Từ truyền thống trên trong lí luận văn học phương Tây thịnh hành cách chia văn học làm ba loại. Theo truyền thống đó, loại tự sự bao gồm () _ Aristote.
Nghệ thuật thơ ca (in chung cùng Lưu Hiệp). NXB Văn học, H, 1999, tr. (3) Tuyển tập Belinski, tập 9, Thượng Hải, 1979, Tr.99 các thể loại sử thi (anh hùng ca), thơ tự sự (truyện thơ), tiểu thuyết v. loại trữ tình bao gồm các thể loại như thơ trữ tình, văn xuôi trữ tình; loại kịch bao gồm bi kịch, hài kịch, chính kịch.
Dựa theo tiêu chí loại hình nội dung thể loại, nhà nghiên cứu Nga G. Pospelov lại chia ra các thể loại thần thoại sử thi, thế sự, đời tư!, Dựa theo tiêu chí miêu tả cuộc sống đã hoàn thành và chưa hoàn thành, nhà nghiên cứu M. Bakhtin đưa ra các thể loại văn học sử thi và các thể loại tiểu thuyết. „ Ở Trung Quốc và Việt Nam từ xưa do quan niệm văn sử bất phân người ta chia văn học làm hai loại chính theo hình thức ngôn từ là thơ và văn.
Các tuyển tập văn học lớn trong lịch sử văn học cũng chia ra như thế, ví như Hoàng Việt thi tuyển, Hoàng Việt uăn tuyển do Bùi Huy Bích (1744 - 1818) soạn. Cho đến những năm 60 thế kỉ XX xuất hiện bộ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam do nhiều học giả chủ trì, sau đó xuất hiện bộ Thơ uăn Lí Trần do Viện Văn học chủ trì, các tên sách đều cho thấy quan niệm chia hai mắng văn thơ thịnh hành, ăn sâu đến thế nào! Ở Trung Quốc hiện đại thịnh hành lối chia bốn, theo đó loại thơ ôm thơ trữ tình, thơ tự sự, sử thi (anh hùng ca), Các tác phẩm tự sự văn xuôi đều được gọi bằng một cái tên chung là “tiểu thuyết", như tiểu thuyết chí quái, tiểu thuyết truyền kì, tiểu thuyết chương hồi v. hai loại còn lại là kịch và tần văn. Khái niệm tân văn của Trung Quốc bao gém các tác phẩm văn xuôi cổ như tẫn văn lịch sử, tản văn nghệ thuật, các bài du kí, bút kí, tuỳ bút, kí sự, tạp văn.
Ở Việt Nam sử dụng cả cách chia ba và cách chia bốn. Cách chia bốn gôm thơ ca chỉ chủ yếu là thơ trữ tình, truyện gồm cả tiểu thuyết và truyện thơ. Khái niệm kí thiên về chỉ các tác phẩm viết về người thật, việc thật, cốt truyện không được quan tâm như truyện. Loại này cũng bao hàm cả các tác phẩm văn xuôi nghệ thuật như tan van tuỳ bút.
Ngoài ra có lúc xuất hiện cách chia năm, tức là ngoài các loại trên cồn thêm loại văn chính luận, nghị luận. Loại này nếu xét theo quan điểm của giới lí luận Trung Quốc, thì thuộc loại tần văn. Pospelov (chủ biên), Mấy uốn để của sự phát triển uăn học, M, 1972, M. Bakhtin, Văn học vd mi hoe, M.
Các phân loại đều có ưu điểm và nhược điểm, nói chung đều có tính chất tương đối. Đó là vì, một là mọi khái quát về thể loại và loại văn học xưa nay nói chung không bao giờ đẩy đủ. Thứ hai, không một tiêu chí phân loại nào có thể loại trừ được các tiêu chí khác, và thứ ba, các thể loại và loại văn học không ngừng xâm nhập vào nhau, tạo thành các loại trung gian. Chọn cách nào đều nhằm một mục đích tiện lợi nào đó trong giảng dạy.
Ở giáo trình này chọn cách chia bốn, vì tính đến truyền thống. phân chia văn và thơ lâu đời và sự phát triển của các thể loại trong văn học hiện đại, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết, kí, tản văn. Chúng ta cũng quen gọi tác gi văn học là nhà văn, nhà thơ, nhà tuỳ bút, nhà viết kịch, tức là dựa theo thể loại mà không gọi là nhà trữ tình, nhà tự sự, nhà kịch. Người Việt Nam không có khái niệm người viết văn như ở châu Âu, hay khái niệm “tác gia” (người sáng tác) như ở Trung Quốc.
TÍNH CHẤT CỦA THỂ LOẠI VĂN HỌC 1. Tính ổn định của thể loại văn học Mỗi loại hình văn học chỉ xét thể loại ở một phương diện nào đó, hoặc phương tiện ngôn ngữ, hoặc phương tiện biểu hiện, hình thức cấu tạo. Còn thể loại, một khi đã hình thành thì tạo thành một hệ thống các phép tắc, chuẩn mực hình thức nhất định, có những đòi hỏi đặc thù về các phương diện ngôn từ, kết cấu, dung lượng, nhân vật. Các phép tắc chuẩn mực ấy phát huy tác dụng mẫu mực đổi với các sáng tác đời sau.
Cho dù trong các thời kì văn học khác nhau, nội dung đời sống, tư tưởng cảm hứng khác nhau như thế nào, các tác phẩm cùng thể loại vẫn giữ được các đặc điểm tương đối ổn định về hình thức. Ví dụ, thể loại truyện, từ các truyện trong Lĩnh Nam chích quái, qua Truyền bì mạn lực, đến các truyện ngắn hiện đại, tuy có những khác biệt, biến thiên, nhưng các yếu tố tạo thành chất "truyện" vẫn không thay đổi. Hoặc các bài thơ, từ các bài thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, đến các sáng tác thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ v. vẫn có các yếu tố tạo thành chất thơ của chúng.
Tính ổn định của thể loại gắn liền với tính kế thừa lịch sử. Nhà lí luận văn học Nga M. Bakhtin đã viết: "Xét về thực chất, thể loại văn học phản ánh những khuynh hướng lâu dài và hết sức bền vững trong sự phát triển văn học. Ở thể loại bao giờ cũng bảo lưu những yếu tố cơ sở bất tử.
Thật ra, cái cơ sở này được bảo lưu chỉ nhờ vào sự đổi mới thường. xuyên, có thể nói là nhờ được hiện đại hoá. Thể loại bao giờ cũng vừa là nó vừa không phải là nó, nó bao giờ cũng đồng thời vừa cũ kĩ vừa mới mẻ “Thể loại là kẻ đại điện của kí ức sáng tạo trong quá trình phát triển của văn học”), 'Tính ổn định của thể loại không phải là bảo thủ, mà gắn liền vơi sự đổi mới. Đổi mới phát huy cái ổn định.
Ví dụ, nhân vật, cốt. truyện, lồi kể, không gian, thời gian là những yếu tố không bao giờ thiếu trong truyện. Hoặc như thơ, nhịp điệu, tính nhạc, hình ảnh biểu tượng, lời thổi lộ trực tiếp là không bao giờ thiếu, mặc dù thơ cổ điển và thơ hiện đại khác nhau rất nhiều. Tính biến đổi của thể loại văn học Tính ổn định của thể loại văn học tổn tại trong trạng thái động.
Nếu nhìn theo con mắt lich đại thì sẽ thấy thể loại văn học đang không ngừng vận động, biến hoá. Thể loại văn học bao giờ cũng là sản phẩm của một đời sống xã hội nhất định, phẩn ánh đặc điểm văn hoá xã hội đương thời và nhu cầu tỉnh thần của con người. Các thể loại văn học chữ Hán Việt Nam trong thời đại Lí Trần phản ánh trình độ phát triển văn hoá và nhu cầu xây dựng nền văn hiến dân tộc. Người Việt Nam đã di thực hầu như toàn bộ thể loại văn học chữ Hán để sử dụng vào công cuộc xây dựng quốc gia độc lập.
Nhưng sau đó ít lâu, vao thé ki XII, nhu edu phát triển văn học trên cơ sở tiếng Việt đã thúc đẩy việc sáng tạo chữ Nôm, hình thành dần dẫn các thể loại văn học Nôm. Các thể loại chữ Hán được sử dụng vào các sáng tác Nôm như thơ Nôm, phú Nôm, ngâm khúc Nôm, truyện Nôm. Trong các thể loại văn học chữ Hán đến thế ki XVIII đã xuất hiện thể loại tiểu thuyết chương hồi như Nam triểu công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm và Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia văn phái. Nhing udn dé thi phép Dostoieoski, Trân Đình Sử và đổng nghiệp dịch.
NXB Giáo dục, H, 1993, tr 101 Các thể phú Hán được tiếp nhận ở thế kỉ XV gắn liền với như cầu ngợi ca triểu đại đương thời, càng về sau thể phú chuyển thành phú Nôm mang nội dung thế tục, thể hiện tình cảm ẩn dật, giáo hoá, châm biếm, tự trào. Phong trào hiện đại văn hoá văn học Việt Nam nữa đầu thế kỉ XX đã khẳng định một hệ thống thể loại văn học hiện đại: Thơ mới tiểu thuyết, truyện ngắn hiện đại, phóng sự, tuỳ bút. các thể loại văn học lúc này gắn liền với sự phát triển của báo chí, nghề in hiện đại và các nhà xuất bản. Sự tiếp xúc, giao lưu với văn học Pháp và phương Tây, việc phế bổ chữ Hán và sử dụng chữ quốc ngữ đã làm cho các thể loại văn học chữ Hán suy tàn, các thể loại văn học trung đại cũng mất dẫn địa vị trong hoạt động sáng tạo của nhà văn.
Bước vào thời kì kháng chiến chống đế quốc Pháp và Mĩ để giải phóng Tổ quốc, thống nhất đất nước, cả hệ thống thể loại văn học chuyển dần theo hướng sử thi, các thể loại văn học dân tộc truyền thống.