CHƯƠNG 1: BẢN CHẤT, CÁC MỐI QUAN HỆ, VAI TRÒ VÀ NGUỒN CỦA PHÁP LUẬT 1. BẢN CHẤT CỦA PHÁP LUẬT Học thuyết Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật lần đầu tiên trong lịch sử và đã lý giải một cách đúng đắn, khoa học vè bản chất của pháp luật và những mối quan hệ của nó với các hiện tượng khác nhau trong xã hội có giai cấp. Pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp. Pháp luật hoàn toàn không phải là sản phẩm thuần túy của lý tính hay bản tính tự nhiên phi giai cấp của con người như học thuyết "pháp luật tự nhiên" quan niệm; mà cũng giống như bản chất nhà nước, bản chất của pháp luật thể hiện trước hết không phải là sản phẩm thuần túy của lý tính bay bản tính tự nhiên phi giai cấp của con người như học thuyết "pháp luật tự nhiên" quan niệm; mà cũng giống như bản chất nhà nước, bản chất của pháp luật thể hiện trước hết ở tính giai cấp của nó.
Tính giai cấp của pháp luật thể hiện trước hết ở chỗ, pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị. Ăngghen, khi nghiên cứu về pháp luật tư sản đã đi đến kết luận: "Pháp luật của các ông chỉ là ý chí của giai cấp các ông được đề lên thành luật pháp, cái ý chí mà nội dung là do các điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định"1. Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để thể hiện ý chí của giai cấp mình một các tập trung, thống nhất thành ý chí của nhà nước, ý chí đó được cụ thể hóa qua các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện. Ăngghen: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Nxb.
Sự thật, Hà Nội, 1980, Tuyển tập, tập 1, tr. Mặt khác, tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội. Mục đích của pháp luật trước hết nhằm để điều chỉnh quan hệ giữa các tầng lớp xã hội. Vì vậy pháp luật là nhân tố để điều chỉnh về mặt giai cấp các quan hệ xã hội nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một trật tự phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, bảo vệ và củng cố địa vị của giai cấp thống trị.
Với ý nghĩa đó, pháp luật chính là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp. Như vậy, bản chất giai cấp luôn là thuộc tính chung của bất kỳ kiểu pháp luật nào, nhưng mỗi kiểu pháp luật có những cách thể hiện riêng. Chẳng hạn, pháp luật chủ nô công khai quy định quyền lực vô hạn của chủ nô và tình trạng vô quyền của nô lệ. Pháp luật phong kiến công khai quy định đặc quyền, đặc lợi của địa chủ phong kiến, cũng như quy định các chế tài hà khắc dã man để đàn áp những người lao động.
Pháp luật tư sản luôn thể hiện ý chí của giai cấp tư sản và bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư sản. Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, là công cụ để xây dựng xã hội mới trong đó mọi người đều được sống tự do, bình đẳng, dân chủ và công bằng xã hội được bảo đảm. Bên cạnh tính giai cấp, pháp luật còn mang tính xã hội. Pháp luật là do nhà nước, đại diện chính thức cho toàn xã hội ban hành.
Vì vậy ở chừng mực nào đó pháp luật còn thể hiện ý chí và lợi ích của các giai cấp và tầng lớp khác nhau trong xã hội. Ví dụ, pháp luật xã hội chủ nghĩa cùng với việc thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn phát triển nhất định không thể không tính đến ý chí và lợi ích của các tầng lớp khác trong xã hội. Tóm lại, xét về bản chất, pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính giai cấp lại vừa thể hiện tính xã hội. Hai thuộc tính này có quan hệ mật thiết với nhau và gắn bó chặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất.
Nói cách khác, không có kiểu pháp luật nào chỉ thể hiện duy nhất tính giai cấp; và ngược lại, cũng không có kiểu pháp luật nào chỉ thể hiện tính xã hội. Như vậy, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung (quy phạm pháp luật) do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, được nhà nước bảo đảm thực hiện, kể cả bằng biện pháp cưỡng chế, để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm duy trì xã hội. CÁC MỐI QUAN HỆ CỦA PHÁP LUẬT VÀ Ý NGHĨA CỦA CÁC QUAN HỆ ĐÓ 1. Mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế và ý nghĩa của mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế Mối quan hệ giữa pháp luật và kinh tế được biểu hiện dưới hai khía cạnh: Một là, pháp luật là yếu tố của kiến trúc thượng tầng xã hội.
Do đó, pháp luật trước hết được ra đời trên cơ sở hạ tầng và được quy định bởi cơ sở hạ tầng. Trong mối quan hệ này, các điều kiện kinh tế không chỉ là nguyên nhân trực tiếp quy định sự ra đời của pháp luật mà còn quyết định toàn bộ nội dung và sự phát triển của nó. Mác đã viết: "Trong thời đại nào cũng thế, chính là vua chúa phải phục tùng những điều kiện kinh tế, chứ không bao giờ vua chúa lại ra lệnh cho những điều kiện kinh tế được. Chẳng qua, chế độ pháp luật về chính trị, cũng như về dân sự chỉ là cái việc nói lên, ghi chép lại quyền lực của những quan hệ kinh tế"2.
Sự phụ thuộc của pháp luật vào kinh tế biểu hiện cụ thể ở các mặt sau đây: - Cơ cấu kinh tế, hệ thống kinh tế quyết định cơ cấu của hệ thống pháp luật. - Tính chất của các quan hệ kinh tế, cơ chế kinh tế quyết định tính chất của các quan hệ pháp luật, mức độ và phương pháp điều chỉnh pháp luật. - Các tổ chức và thiết chế pháp lý chịu ảnh hưởng quyết định từ chế độ kinh tế. Hai là, mặc dù ra đời từ các điều kiện và tiền đề kinh tế nhưng pháp luật không phản ánh một cách thụ động các quan hệ kinh tế, mà còn có tính độc lập 2 C.
Mác: Sự khốn cùng của triết học, Nxb. Sự thật, hà nội, 1971, tr. tương đối và tác động trở lại đối với kinh tế. Điều đó được thể hiện cụ thể ở các mặt sau đây: - Nếu pháp luật được xây dựng phù hợp với các quy luật kinh tế - xã hội thì sẽ tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế, đến cách tổ chức và vận hành toàn bộ nền kinh tế cũng như cơ cấu bên trong của nền kinh tế một cách có hiệu quả… - Nếu pháp luật được xây dựng không phù hợp với các quy luật kinh tế - xã hội thì nó kìm hãm sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế hoặc một trong các yếu tố hợp thành của hệ thống kinh tế… Như vậy, sự tác động của pháp luật lên kinh tế phụ thuộc không nhỏ vào nhân tố chủ quan, vào hoạt động nhận thức của chủ thể xây dựng pháp luật.
Vì vậy, chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí trong công tác lập pháp sẽ không tránh khỏi dẫn đến một chế độ pháp luật lạc hậu, kìm hãm những yếu tố tích cực của đời sống kinh tế - xã hội, kìm hãm sự tiến bộ xã hội. Mối quan hệ giữa pháp luật với chính trị và ý nghĩa của mối quan hệ giữa pháp luật với chính trị Theo V. Lênin, trong mối quan hệ với chính trị, "một đạo luật là một biện pháp chính trị, là chính trị"3. Lịch sử phát triển xã hội loải người từ khi phân chia thành giai cấp đến nay đã chứng minh rằng, bất kỳ giai cấp thống trị nào cũng đều dựa vào pháp luật để thể hiện ý chí và thực hiện đường lối chính trị của giai cấp mình.
Pháp luật trở thành hình thức ghi nhận thể hiện tập trung, trực tiếp chính trị của giai cấp thống trị, là biện pháp sắc bén nhất, hiệu quả nhất để thực hiện những yêu cầu, mục đích, nội dung chính trị của giai cấp cầm quyền. Mối liên hệ giữa pháp luật và chính trị thể hiện tập trung, trực tiếp ở nội dung cơ bản của cương lĩnh, mục tiêu, biện pháp của đường lối chính trị của giai cấp thống trị. Mối liên hệ giữa pháp luật và chính trị thể hiện tập trung mối liên hệ giữa đường lối, chính sách của đảng cầm quyền với pháp luật của nhà nước. Lênin: Toàn tập, Nxb.
Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, t. chính trị của đảng cầm quyền có ý nghĩa chỉ đạo việc xây dựng, tuyên truyền, giáo dục pháp luật. Pháp luật thể chế hóa đường lối, chính sách của đảng thành ý chí chung, ý chí của nhà nước. Ngoài ra, pháp luật còn chịu ảnh hưởng nhất định ở đường lối chính trị của các giai cấp và tầng lớp khác trong xã hội.
Mối quan hệ giữa pháp luật với nhà nước và ý nghĩa của mối quan hệ giữa pháp luật với nhà nước Pháp luật và nhà nước là hai bộ phận của kiến trúc thượng tầng, luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cả hai hiện tượng này đều chung nguồn gốc ra đời và phát triển. Trong mối quan hệ này, nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, nhưng quyền lực đó chỉ có thể được thực hiện và có hiệu lực trên cơ sở của pháp luật. Còn pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và luôn phản ánh quan điểm, đường lối chính trị của lực lượng nắm quyền lực nhà nước, bảo đảm cho quyền lực đó được thực hiện trong xã hội.
Với ý nghĩa đó, nhà nước không thể tồn tại và phát huy quyền lực nếu thiếu pháp luật. Ngược lại, pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và có hiệu lực khi dựa trên cơ sở sức mạnh của quyền lực nhà nước. Lênin viết: "ý chí, nếu nó là ý chí của nhà nước thì phải được biểu hiện dưới một hình thức một đạo luật do chính quyền đặt ra; nếu không thế thì hai tiếng "ý chí" chỉ là một sự rung động không khí do những âm thanh rỗng tuếch gây nên"4. Vì lẽ đó, không thể nói pháp luật đứng trên nhà nước hay nhà nước đứng trên pháp luật, phải đặt chúng trong mối quan hệ qua lại với nhau.