LƯỢC SỬ ÂM NHẠC VIỆT NAM (GIÁO TRÌNH CHO BẬC ĐẠI HỌC) – TÁC GIẢ: THỤY LOAN

Tổng quan về giáo trình

Lược sử Âm nhạc Việt Nam do nhạc sĩ, nhà nghiên cứu Thụy Loan biên soạn, được Nhạc viện Hà Nội và Nhà xuất bản Âm nhạc xuất bản vào tháng 1 năm 1993 (Số xuất bản: 01 AN/93; Chịu trách nhiệm xuất bản: Nguyễn Thế Vinh – Phạm Đức Lộc; Biên tập nội dung: Nguyễn Ánh Nguyệt; Biên tập kỹ thuật: Trần Văn Tiến). Đây là công trình giáo trình thể nghiệm phục vụ trực tiếp cho môn học Lịch sử Âm nhạc Việt Nam, được đưa vào chương trình đào tạo chính quy bậc đại học tại Nhạc viện Hà Nội từ niên khóa 1989–1990.

Mục tiêu đào tạo của giáo trình tập trung vào việc trang bị cho sinh viên hệ thống kiến thức tổng quát và toàn diện về tiến trình lịch sử 4.000 năm của nền âm nhạc dân tộc từ thời kỳ dựng nước đến giai đoạn cận – hiện đại. Giáo trình làm sáng tỏ quy luật phát triển tự thân của âm nhạc gắn liền với các điều kiện kinh tế, chính trị, địa lý và đời sống tâm linh của cộng đồng các dân tộc cư trú trên lãnh thổ Việt Nam.

Về cấu trúc và phương pháp tiếp cận, cuốn sách được thiết kế theo dạng công trình liên hoàn kết hợp với môn học Trích giảng Âm nhạc Việt Nam ở bậc trung học. Thay vì lặp lại việc phân tích chi tiết tiểu sử từng tác giả hay trích đoạn tác phẩm nhỏ lẻ, giáo trình bậc đại học tập trung vào diện mạo lịch sử tổng thể, sự vận động của các thể loại âm nhạc, cấu trúc dàn nhạc, nhạc khí và thang âm điệu thức qua từng thời kỳ.

Điểm đặc thù của giáo trình là việc xác lập nền tảng bản địa Đông Nam Á của âm nhạc Việt Nam dựa trên các chứng tích khảo cổ học, âm học và dân tộc học, đồng thời phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa dòng âm nhạc dân gian và âm nhạc cung đình bác học qua các biến thiên lịch sử.


Nội dung kiến thức cốt lõi

                             TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ ÂM NHẠC VIỆT NAM
                                   (Theo giáo trình Thụy Loan)
                                                │
         ┌──────────────────────────────────────┼──────────────────────────────────────┐
         ▼                                      ▼                                      ▼
   THỜI KỲ DỰNG NƯỚC                      THỜI KỲ PHONG KIẾN                     THỜI KỲ CẬN - HIỆN ĐẠI
 (Thiên niên kỷ II TCN - TK X)          (TK X - Giữa TK XIX)                     (Giữa TK XIX - Nay)
         │                                      │                                      │
 ┌───────┴───────┐                      ┌───────┴───────┐                      ┌───────┴───────┐
 ▼               ▼                      ▼               ▼                      ▼               ▼
Thời Hùng Vương  Bắc thuộc &            TK X - TK XV:   TK XV - Giữa TK XIX:   1858 - 1945:    1945 - Nay:
(Đông Sơn,       Chống Bắc thuộc        Xây dựng độc    Chính quy hóa, tách    Đụng độ văn     Kháng chiến,
Sa Huỳnh,        (Thanh điệu hóa,       lập, phân       biệt quốc/tục nhạc;    hóa Tây phương, thống nhất,
Bộ gõ, Đa âm     Giữ vốn cổ qua         nhánh dân gian  phát triển Chèo,       ra đời Tân      xây dựng nền
bè trì tục)      lễ hội)                & cung đình     Tuồng, Ca trù, Huế     nhạc            âm nhạc mới

Các chương và chủ đề chính

1. Phần mở đầu: Khái quát về âm nhạc Việt Nam và lịch sử âm nhạc Việt Nam

Chương này xác định cơ sở tự nhiên và nhân chủng của nền âm nhạc hình thành trên địa bàn cư trú của 54 thành phần dân tộc thuộc ba dòng ngữ hệ chính: dòng Nam Á (Việt – Mường, Môn – Khơme, Tày – Thái, Mèo – Dao), dòng Nam Đảo (Gia-rai, Ê-đê, Chăm, Raglai, Churu) và dòng Hán – Tạng (Hoa, Ngái, Hà Nhì, Lô Lô...). Tác giả phân tích nền tảng văn hóa tre nứa, nghề nông trồng lúa nước và đời sống tâm linh vạn vật hữu linh chi phối tư duy âm nhạc sơ khai.

Đồng thời, phần này bác bỏ quan điểm quy thuộc âm nhạc Việt Nam thuần túy vào khu vực Đông Á cổ điển, khẳng định vị trí của âm nhạc Việt Nam trong không gian âm nhạc Đông Nam Á bản địa thông qua các đặc trưng: bộ nhạc khí (trống đồng, cồng chiêng, khèn bầu, đàn đá), thang âm (hệ thống 7 âm chia đều ở lục địa và 5 âm chia đều ở hải đảo) và phương thức hòa tấu. Giáo trình cung cấp bảng đối chiếu các thang âm tính bằng đơn vị Cent:

Hệ thống thang âm Đô Mi Pha Xon La Xi Đô
Âm quân luật 0 200 400 500 700 900 1100 1200
Pythagore 0 204 408 498 702 906 1110 1200
Cổ Trung Hoa (trích) 0 204 408 498 702 906 1110 1200
7 âm chia đều 0 171 343 514 686 857 1028 1200
5 âm chia đều 0 240 480 720 960 1200

Ghi chú: Đơn vị Cent (xen) đo cao độ âm thanh.

2. Phần thứ nhất: Âm nhạc trong buổi đầu dựng nước và giữ nước (Thiên niên kỷ II TCN – Thế kỷ X)

  • Chương I – Âm nhạc thời đại Hùng Vương: Khảo sát các di chỉ từ Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun đến văn hóa Đông Sơn. Khái quát sinh hoạt âm nhạc gắn với lễ nghi nông nghiệp, hội cầu mưa, tín ngưỡng phồn thực và phân loại hệ thống nhạc khí:
    • Nhạc khí màng rung: Trống da lớn (trống đại), trống da nhỏ (trống khẩu).
    • Nhạc khí tự thân vang: Trống đồng loại I Hê-ghơ, dàn cồng chiêng (6–8 chiếc), chuông nhạc/lục lạc, sênh.
    • Nhạc khí hơi: Khèn bè ngắn (kiểu Thái), khèn bè vòi dài (kiểu Hmông, đinh năm Ê-đê, nông buôt Mnông), tù và sừng trâu, ốc biển.
    • Nhạc khí dây: Dấu vết dây đồng mảnh gợi mở các dạng đàn dây nguyên sơ (tương đồng đàn brô, tính tẩu, gôông rêêng).
    • Văn hóa Sa Huỳnh và đàn đá: Khảo sát các bộ đàn đá định âm phát hiện tại Ndut Liêng Krak và Bình Đa (niên đại 3.000–4.000 năm), xác lập sự tương đồng giữa cư dân Văn Lang – Âu Lạc phía Bắc và cư dân phía Nam.
    • Đặc trưng âm nhạc: Sự thống trị của tiết tấu và bộ gõ; bước đầu hình thành tư duy đa âm sơ khai ở dạng giai điệu kết hợp bè trì tục qua cấu tạo khèn bè.
  • Âm nhạc thời Bắc thuộc và chống Bắc thuộc (179 TCN – Thế kỷ X): Đấu tranh bảo tồn bản sắc văn hóa thông qua các hội diễn xướng dân gian (Hội Đền Hùng, Hội Gióng, hát Dô, hát Tàu tượng, hát Xoan). Ghi nhận các yếu tố dân tộc học mới: quá trình thanh điệu hóa của tiếng Việt từ không dấu sang 3 thanh điệu vào thế kỷ VI (tác động trực tiếp đến kết cấu giai điệu dân ca 3 cao độ) và đạt 6 thanh điệu vào khoảng thế kỷ XI; sự du nhập của chũm chọe và ảnh hưởng giao thương từ Ấn Độ, Trung Á.

3. Phần thứ hai: Âm nhạc trong thời kỳ quốc gia phong kiến độc lập – tự chủ (Thế kỷ X – Giữa thế kỷ XIX)

  • Giai đoạn thế kỷ X – Thế kỷ XV: Bước đầu xây dựng quốc gia độc lập; âm nhạc dân gian và âm nhạc cung đình bắt đầu phân nhánh nhưng vẫn duy trì mối quan hệ nguồn cội khăng khít.
  • Giai đoạn thế kỷ XV – Giữa thế kỷ XIX: Nhà nước phong kiến tổ chức chính quy hóa âm nhạc theo khuôn mẫu triều đình phương Bắc, dẫn đến sự phân lập giữa "quốc nhạc" và "tục nhạc".
    • Hát cửa đình và Ca trù (Ả đào): Bắt nguồn từ hát thờ thần tại đình làng (cuối TK XV), sau chuyển hóa vào các tư thất quan viên. Giáo trình phân tích tư liệu thơ của Lê Đức Mao (đầu TK XVI), các tác phẩm của Trịnh Cương, cùng ghi chép của Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút về sự biến đổi âm luật và bài bản (Kiều dương, Hò nói, Cung Huỳnh, Đại thạch). Cấu trúc "bộ tứ nhạc khí" định hình gồm: phách lá, đờn đáy, trống chầu (thu nhỏ kích thước từ trống cái xuống trống con 20cm x 22cm) và giọng hát đào nương.
    • Sân khấu Chèo và Tuồng: Bước sang giai đoạn tác gia – tác phẩm. Dẫn chứng kịch bản chèo cổ Huyết hồ phú (1455); tác phẩm lý luận sân khấu Hí phường phả lục (1501) của Lương Thế Vinh xác lập quy chuẩn múa (tứ tương), biểu diễn (hô ứng tương sinh, ngũ kỹ), tiêu chuẩn diễn viên (lục tự) và nghệ thuật đánh trống chầu; các kịch bản tuồng như Lục súc tranh công, Sãi vãi của Nguyễn Cư Trinh; ghi chép của Samuel Baron (thế kỷ XVII) về nghệ thuật diễn xướng dân gian ở Bắc kỳ.
    • Âm nhạc thời Nguyễn: Khảo cứu hệ thống dàn nhạc cung đình: Nhã nhạc, Nhạc huyền (24 nhạc cụ gồm biên chung, biên khánh, bài tiêu, huân, trì...), Cổ xúy đại nhạc (20 trống cổ, kim minh ca, tù và...), Tỉ trúc tế nhạc, Ty chung, Ty khánh; các thể loại lễ nhạc (Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngũ tự nhạc, Đại triều nhạc, Thường triều nhạc, Yến nhạc). Đối chiếu cấu trúc dàn nhạc cung đình với phường Bát âm ngoài Bắc và phường Ngũ âm (phe văn, phe võ) trong Nam. Phân tích sự hình thành Ca Huế thính phòng gắn với các bài bản Tế nhạc (Long ngâm, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ) và các tập bản phổ của hoàng tộc: Nguyệt cầm phổ (1859) của Nam Sách, Nam cầm phổ của Miên Thẩm.

4. Phần thứ ba: Âm nhạc từ giữa thế kỷ XIX đến nay

Phân tích cuộc đụng độ với văn hóa phương Tây (1858–1945), sự ra đời của phong trào âm nhạc cải cách (Tân nhạc) và quá trình tiếp thu hệ thống tư duy âm nhạc châu Âu. Giai đoạn từ 1945 đến nay tập trung vào công cuộc xây dựng nền âm nhạc mới qua hai cuộc kháng chiến và thời kỳ thống nhất đất nước.

Kiến thức nền tảng được xây dựng

  • Lý thuyết âm nhạc học lịch sử và dân tộc học: Đặt âm nhạc trong mối tương quan với khảo cổ học (văn hóa Đông Sơn, Sa Huỳnh) và ngôn ngữ học (tiến trình thanh điệu hóa tác động đến đường nét giai điệu).
  • Nguyên lý phân tầng văn hóa: Làm rõ tính chất "nhiều tầng, nhiều lớp" của âm nhạc Việt Nam – sự cùng tồn tại đồng thời trên mặt cắt đồng đại của các loại hình thuộc nhiều trình độ phát triển (từ tiền nhạc khí, nhạc cụ tre nứa nguyên thủy đến các dàn nhạc cung đình quy chuẩn và nhạc cụ hiện đại).
  • Hệ thống phân loại nhạc cụ và thang âm: Ứng dụng khung phân loại bốn họ nhạc cụ (hơi, màng rung, tự thân vang, dây) và phân tích các hệ thống quãng phân chia theo đơn vị Cent trong không gian âm nhạc Đông Nam Á.

Kỹ năng phát triển cho người học

  • Kỹ năng phân tích văn bản và tư liệu cổ: Khai thác, đối chiếu các nguồn sử liệu Hán Nôm và ghi chép cổ (Đại Việt sử lược, Minh chí, Hí phường phả lục, Vũ trung tùy bút) với hiện vật khảo cổ học và thực tiễn diễn xướng dân gian.
  • Kỹ năng nhận diện và phân loại hình thái âm nhạc: Phân biệt cấu trúc tổ chức, biên chế nhạc cụ giữa các dàn nhạc cung đình (Nhã nhạc, Đại nhạc, Nhạc huyền) và các phường nhạc dân gian (Bát âm, Ngũ âm, phường kèn).
  • Năng lực thẩm định phong cách bài bản: Phân tích quy cách biểu diễn, niêm luật giai điệu và tính chất dị bản của các thể loại ca nhạc thính phòng (Ca trù, Ca Huế) và sân khấu truyền thống (Chèo, Tuồng).

Phương pháp giảng dạy và học tập

                    MÔ HÌNH PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY & HỌC TẬP
                                       │
     ┌─────────────────────────────────┼─────────────────────────────────┐
     ▼                                 ▼                                 ▼
KHUNG LÝ THUYẾT                  TỰ HỌC & ĐỐI CHIẾU               ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC
• Giảng trực tiếp trên lớp       • Đọc giáo trình rút gọn         • Kiểm tra phân tích cấu
  về quy luật lịch sử              về diện mạo thể loại             trúc dàn nhạc/thang âm
• Phương pháp so sánh            • Tra cứu văn bản học            • Khảo sát văn bản cổ
  đồng đại & lịch đại              (sử liệu Hán Nôm, di chỉ)        (*Hí phường phả lục*...)

Phương pháp tiếp cận sư phạm

Giáo trình áp dụng phương pháp kết hợp giữa tiếp cận lịch đại (chronological approach) và tiếp cận đồng đại (synchronic approach). Trên lớp, giảng viên giữ vai trò khái quát hóa các quy luật phát triển, giải thích các mối liên hệ giữa bối cảnh xã hội – chính trị với sự biến đổi thể loại. Phần kiến thức mô tả chi tiết về diện mạo thể loại được thiết kế để sinh viên tự đọc, giúp tối ưu hóa thời lượng lên lớp theo định hướng tinh giản của Nhạc viện Hà Nội.

Bài tập và phân tích trường hợp (Case studies)

  • Nghiên cứu văn bản lý luận: Phân tích các tiêu chuẩn diễn xuất và quy tắc gõ trống chầu trong Hí phường phả lục của Lương Thế Vinh để làm rõ tư duy sân khấu thế kỷ XVI.
  • Đối chiếu cấu trúc dàn nhạc: So sánh sự tinh giảm biên chế nhạc cụ từ dàn nhạc cung đình thời Nguyễn sang phường Bát âm Bắc Bộ và phường Ngũ âm Nam Bộ.
  • Khảo sát diễn xướng: Đọc hiểu các ghi chép phương Tây thế kỷ XVII của Samuel Baron về sân khấu Chèo cổ để xác định cấu trúc vở diễn và vai trò của hề chèo.

Đánh giá và hướng dẫn tự học

  • Hình thức đánh giá: Kết hợp bài kiểm tra viết về tiến trình phân kỳ lịch sử, bài tập phân tích biểu đồ thang âm cent và bài thu hoạch so sánh các loại hình nhạc khí cổ truyền.
  • Chỉ dẫn tự nghiên cứu: Sinh viên cần kết hợp việc đọc văn bản với việc nghe đối chiếu các băng đĩa ghi âm thực địa bài bản dân ca, quan sát hiện vật nhạc khí tại bảo tàng và tham khảo các công trình nghiên cứu dân tộc nhạc học liên quan.

Điểm nổi bật và cập nhật học thuật

  • Xác lập lại vị trí của âm nhạc Việt Nam trong khu vực: Giáo trình trực tiếp giải tỏa quan điểm học thuật phiến diện từng coi âm nhạc Việt Nam là "bản sao của âm nhạc Trung Hoa" hoặc quy thuộc hoàn toàn vào không gian Đông Á. Bằng việc kết hợp cứ liệu khảo cổ (trống đồng Đông Sơn, đàn đá Nam Trung Bộ) và cơ cấu thang âm 7 âm/5 âm chia đều, tác giả xác định nền tảng bản địa mang truyền thống Đông Nam Á của âm nhạc dân tộc.
  • Tích hợp các thành tựu khảo cổ học mới: Công trình cập nhật các phát hiện khảo cổ học quan trọng tính đến thời điểm biên soạn, tiêu biểu là việc phát hiện bộ đàn đá Bình Đa (Đồng Nai) năm 1979 trong tầng văn hóa đồ gốm 3.000–4.000 năm cách ngày nay, bổ sung cho các dữ liệu về bộ đàn đá Ndut Liêng Krak (1949).
  • Ứng dụng phương pháp âm học thực nghiệm: Việc đưa bảng tính quãng theo đơn vị Cent vào giáo trình giúp định lượng hóa cao độ các thang âm cổ truyền (thang 7 âm chia đều trên đàn đáy, đàn sến; thang âm người Khơme Nam Bộ), chuyển từ nhận định cảm tính sang cơ sở khoa học âm học.
  • Gắn kết di sản với đào tạo chuyên nghiệp: Cung cấp tư liệu gốc về biên chế dàn nhạc và bài bản cung đình thời Nguyễn (các khúc nhạc mang chữ Thành, Bình, Thọ, Phong, Hòa, Huy), hỗ trợ trực tiếp cho công tác nghiên cứu, phục dựng Nhã nhạc và ca nhạc thính phòng truyền thống.

Đối tượng sử dụng giáo trình

                           CƠ CẤU ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG
                                      │
     ┌────────────────────────────────┼────────────────────────────────┐
     ▼                                ▼                                ▼
BẬC ĐẠI HỌC AM NHẠC              GIẢNG VIÊN CHUYÊN NGÀNH          NGHIÊN CỨU & CAO HỌC
• Lý luận âm nhạc                • Xây dựng đề cương môn          • Học viên Cao học Âm nhạc
• Sáng tác & Chỉ huy               Lịch sử Âm nhạc VN             • Nhà nghiên cứu Văn hóa,
• Biểu diễn Nhạc cụ truyền thống • Hướng dẫn phân tích thể loại     Dân tộc học, Nghệ thuật học
  • Sinh viên chuyên ngành: Giáo trình phục vụ trực tiếp cho sinh viên đại học năm thứ nhất và năm thứ hai thuộc các chuyên ngành: Âm nhạc học (Lý luận âm nhạc), Sáng tác âm nhạc, Chỉ huy dàn nhạc, Biểu diễn nhạc cụ truyền thống và Thanh nhạc tại các Nhạc viện, Học viện Âm nhạc và Trường Đại học Văn hóa – Nghệ thuật.
  • Yêu cầu kiến thức tiên quyết (Prerequisites): Người học cần hoàn thành khối kiến thức Lý thuyết âm nhạc cơ bản, Ký xướng âm, và nắm được khối lượng kiến thức cơ sở từ môn Trích giảng Âm nhạc Việt Nam ở bậc trung cấp âm nhạc.
  • Giảng viên chuyên ngành: Sử dụng giáo trình làm khung cấu trúc bài giảng chuẩn, định hướng tổ chức thảo luận chuyên đề về quy luật tiếp biến văn hóa và hướng dẫn sinh viên khai thác tư liệu sử học âm nhạc.
  • Đối tượng tự học và tham khảo: Là tài liệu cơ sở cho học viên cao học chuyên ngành Âm nhạc học, các nhà nghiên cứu dân tộc học, văn hóa học và các nghệ nhân mong muốn tiếp cận lịch sử âm nhạc dưới góc độ khoa học.

Câu hỏi thường gặp (FAQ)

1. Giáo trình này được xây dựng cho cấp bậc đào tạo nào?

Giáo trình được biên soạn chuyên biệt cho bậc đại học âm nhạc chuyên nghiệp, đồng thời đóng vai trò tài liệu nền tảng cho bậc cao học và các nhà nghiên cứu chuyên sâu về âm nhạc cổ truyền Việt Nam.

2. Người học cần chuẩn bị kiến thức nền tảng gì trước khi học giáo trình này?

Cần nắm vững kiến thức lý thuyết âm nhạc cơ bản, hệ thống phân loại nhạc cụ, và các bài bản tiêu biểu đã được giới thiệu trong chương trình Trích giảng Âm nhạc Việt Nam ở bậc trung học.

3. Điểm khác biệt căn bản giữa giáo trình này với các giáo trình lịch sử âm nhạc phương Tây là gì?

Lịch sử âm nhạc phương Tây chủ yếu là lịch sử của các tác giả và tác phẩm thành văn có niên đại chính xác. Ngược lại, do tính chất phi văn bản và truyền khẩu của âm nhạc truyền thống Việt Nam, giáo trình tập trung vào lịch sử hình thành, phát triển của các thể loại âm nhạc, cấu trúc thang âm và nhạc khí qua từng giai đoạn lịch sử.

4. Phương pháp tự học giáo trình như thế nào để đạt hiệu quả cao?

Sinh viên cần kết hợp đọc nội dung lý thuyết trong giáo trình với việc phân tích bảng đối chiếu thang âm Cent, đối chiếu biên chế dàn nhạc cung đình với dàn nhạc dân gian, và nghe các bản ghi âm mẫu của từng thể loại (Ả đào, Ca Huế, Chèo, Tuồng, Dân ca).

5. Giáo trình liên kết với các tài liệu bổ trợ nào trong chương trình đào tạo?

Giáo trình kết hợp liên hoàn với tài liệu giảng dạy Trích giảng Âm nhạc Việt Nam bậc trung học, đồng thời dẫn chiếu đến các nguồn thư tịch cổ như Đại Việt sử lược, Hí phường phả lục, Vũ trung tùy bút, Nguyệt cầm phổ và các báo cáo khảo cổ học về văn hóa Đông Sơn, Sa Huỳnh.


Kết luận

Giáo trình Lược sử Âm nhạc Việt Nam của Thụy Loan xác lập hệ thống cơ sở dữ liệu và khung lý luận khoa học cho việc nghiên cứu lịch sử âm nhạc dân tộc ở bậc đại học. Giá trị học thuật cốt lõi của cuốn sách thể hiện ở phương pháp tiếp cận đa ngành, chứng minh nguồn gốc bản địa Đông Nam Á của âm nhạc Việt Nam và làm rõ mối quan hệ tương tác giữa âm nhạc dân gian với âm nhạc cung đình bác học qua các thời kỳ lịch sử.

Lộ trình học tập đề xuất:

  1. Nắm vững cơ sở địa – văn hóa, hệ thống nhạc khí và thang âm Đông Nam Á (Phần mở đầu & Phần thứ nhất).
  2. Phân tích sự chuyển dịch cấu trúc thể loại, bài bản và dàn nhạc trong thời kỳ phong kiến độc lập (Phần thứ hai).
  3. Đánh giá quá trình tiếp biến phương Tây và sự hình thành nền âm nhạc mới (Phần thứ ba).

Tài liệu bổ trợ khuyến nghị bao gồm các báo cáo khai quật khảo cổ học nhạc khí Đông Sơn – Sa Huỳnh, hệ thống thư tịch Hán Nôm về âm nhạc cung đình triều Nguyễn và kho lưu trữ âm thanh diễn xướng dân gian của Viện Âm nhạc.