Chương 1, 5, 6 TS. HOÀNG THỊ QUỲNH CHI Chương 4, 9 ThS. TRẦN ĐỨC THÀNH Chương 6, 7 Nanni3 \ ® è LỜI NHÀ XUÁT BẢN Ngày 24-4-2013, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 614/QĐ-TTg về việc thành lập Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội trên cơ sở nâng cấp Trường Đào tạo, bổi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát. Trường có chức năng, nhiệm vụ là đào tạo trình độ đại học, sau đại học để bổ sung nhân lực cho ngành kiểm sát; đào tạo; bồi dưỡng can bộ, công chức ngành kiểm sát.
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, hệ thống giáo trình của trường cần có sự sửa đổi, bổ sung, đồng bộ hóa, nâng cao chất lượng và mở rộng một số chuyên ngành. Nhà trường đã phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản bộ giáo trình mới với sự tham gia biên soạn của các giảng viên, các chuyên gia và nhà nghiên cứu nhiều tâm huyết, giàu kinh nghiệm. Trước yêu cầu đổi mới của đất nước, đồng thời để chủ động hội nhập quốc tế, ngày 25-11-2015, tại kỳ hop thứ 10, Quốc hội khéa XIII đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2016 thay thế Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011. Đây là một trong những bộ luật quan trọng về tố tụng được Quốc hội thông qua theo tỉnh thần Hiến pháp mới, là bộ luật thể hiện mối quan hệ giữa Tòa án, Viện kiểm sát, đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và những chủ thể khác phát sinh trong tố tụng ỖỖỒNd Kỹ NA NA XNK NA Ề3 Fa 2-2224 aut MỆ MỆ ot 3À ? 23 3 ANAAANANANANAANANANAANANAAANANAAEARANEARADS dân sự, trong đó quyền và nghĩa vụ của các bên trong các quan hệ này được các quy phạm pháp luật tố tụng dân sự quy định.
Việc nắm bắt những quy định này là yêu cầu hết sức cần thiết nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước. Trên cơ sở phân tích và luận giải những kiến thức của bộ luật này, Giáo trình Luật tố tụng dân sự do T8. Vũ Thị Hồng Vân chu biên sẽ là tài liệu cần thiết để trang bị những kiến thức cơ bản cho học viên Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội về bộ luật quan trọng này. Trong khuôn khổ cuốn giáo trình được biên soạn và xuất bản lần đầu này, chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, Nhà xuất bản trị quốc gia Sự thật, Trường Đại học Chính Kiểm sát Hà Nội và các tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để cuốn sách được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc. Tháng 9 năm 2018 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT 4 Ỷ4 6165566601 dế 4 ? %4 ANANAANANANANAANANAANANANAARANANAARARANEARADS Chuong 1 KHÁI NIỆM, CÁC NGUYÊN TÁC CƠ BẢN CỦA LUẬT TÓ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM A. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ LUẬT TÓ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM I- KHÁI NIỆM, ĐÓI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH VÀ PHƯƠNG PHÁP DIEU CHINH CỦA LUẬT TÓ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm Luật tố tụng dân sự Việt Nam Để pháp luật trở thành công cụ hữu hiệu trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động thì cần có những biện pháp nhằm xử lý đúng đắn và kịp thời các tranh chấp, vi phạm phát sinh giữa các chủ thể từ các quan hệ này.
Đây là bảo đảm cho sự hình thành, phát triển của các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động. Ở Việt Nam, phương thức giải quyết các tranh chấp, vi phạm bằng con đường Tòa án được sử dụng chủ yếu. Bởi vì, pháp luật Việt Nam hiện hành chưa quy định đa dạng các phương thức giải quyết đối với các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, ngoại trừ tranh chấp về kinh doanh, thương mại, lao động thì bên cạnh phương thức giải quyết bằng con đường Tòa án, pháp ` x `. ề luật còn có quy định giải quyết bằng trọng tài thương mại hay hội đồng trọng tài lao động.
Tòa án với tư cách là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiệm vụ xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật để góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân; giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Vì vậy, mỗi khi quyền và lợi ích hợp pháp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của các cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì các chủ thể này theo thủ tục do pháp luật quy định có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ. Điều 1 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định Tòa án giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Các tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động được Tòa án thụ lý giải quyết được gọi là vụ việc dân sự.
Những vụ việc dân sự mà trong đó Tòa án giải quyết các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên được gọi là vụ án dân sự, còn đối với những vụ việc dân sự trong đó Tòa án không giải quyết các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên mà giải quyết các yêu cầu được gọi là việc dân sự. Quá trình giải quyết các vụ việc dân sự bao gồm nhiều thủ tục, giai đoạn tố tụng kế tiếp nhau, bắt đầu bằng việc đương sự hoặc các chủ thể có thẩm quyền nộp đơn khởi kiện vụ án dân sự hoặc đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự; tiếp đến Tòa án nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và vào số nhận đơn và kiểm tra các điều kiện của việc khởi kiện hoặc yêu cầu, nếu thấy việc khởi kiện hoặc yêu cầu đủ điều kiện Tòa án tiến hành việc 8 ñ ñ ⁄ 6165566601 Z42⁄2712/⁄22777/2/2 BY oS oN ANAAANANANANAANANANAANANAAANANAAEARANEARADS2 thụ lý để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm; sau đó nếu bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị sẽ được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Hoạt động của các chủ thể trên đã làm phát sinh nhiều mối quan hệ giữa các chủ thể như: Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và những chủ thể khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự. Hoạt động của các chủ thể trên được thực hiện theo một trình tự, thủ tục thống nhất và được các quy phạm pháp luật tố tụng dân sự quy định.
Hệ thống các quy phạm pháp luật quy định để điểu chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong tố tụng dân sự cấu thành ngành luật tố tụng dân sự. Như vậy, Luật tố tụng dân sự Việt Nam là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước. Đối tượng điều chỉnh của Luật tố tụng dân sự Việt Nam Trong tố tụng dân sự, từ thời điểm các chủ thể có thẩm quyền nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết đến thời điểm Tòa án ra các bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự có rất nhiều các quan hệ phát sinh giữa Tòa án, Viện kiểm sát, đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người định giá và những chủ thể khác như cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ các tài liệu, giấy tờ có chứa dung chứng cứ hoặc có trách nhiệm chuyển giao các văn bản tố tụng. Luật tố tụng dân sự Việt Nam đã điều chỉnh các quan hệ này bằng việc quy định cụ thể các quyền và or me Ỳ 9 3 MỆ Ặ ot 3À `Ề 3 Nanni nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể khi tham gia mỗi quan hệ đó, buộc các chủ thể phải thực hiện các hành vi tố tụng của mình nhằm bảo đảm giải quyết nhanh chóng và đúng đắn các quyền và lợi ích hợp pháp cho Nhà nước, tổ chức và các cá nhân.
Như vậy, đối tượng điều chỉnh của Luật tố tụng dân sự Việt Nam là quan hệ giữa Tòa án, Viện kiểm sát, những người tham gia tố tụng và những chủ thể khác phát sinh trong tố tụng dân sự. Các quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự rất phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, không phải mọi quan hệ phát sinh trong quá trình này đều thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật tố tụng dân sự mà chỉ những quan hệ mà một bên chủ thể là Tòa án, Viện kiểm sát với bên kia là các chủ thể khác như đương sự, đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự mới thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật tố tụng dân sự. Mặt khác, chỉ những quan hệ phát sinh trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự mới thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật tố tụng dân sự.
Do đó, có thể xác định Luật tố tụng dân sự điều chỉnh các quan hệ chủ yếu sau đây: - Các quan hệ giữa Tòa án nhân dân với Viện kiểm sát nhân dân. - Các quan hệ giữa Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân với đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.