CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LUẬT KINH TẾ Mã chương: MH 07- 01 Giới thiệu: Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của Luật kinh tế đối với hoạt động kinh doanh của xã hội Mục tiêu: - Trình bày được khái niệm Luật kinh tế - Trình bày được lịch sử hình thành và phát triển của Luật kinh tế - Trung thực, nghiêm túc trong nghiên cứu 1. Khái quát chung về hoạt động thương mại và Luật kinh tế 1.1 Khái niệm hoạt động thương mại Sự ra đời và phát triển của hoạt động thương mại gắn liền với nền sản xuất hàng hóa. Thương mại xuất hiện trên cơ sở sự phân công lao động xã hội, nó tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau.
Ban đầu, khái niệm thương mại được hiểu đơn thuần là hoạt động mua bán hàng hóa nhằm mục đích kiếm lời. Sau đó, cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế - xã hội, khái niệm thương mại dần được mở rộng hơn trên nhiều lĩnh vực của đời sống, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ. Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 cũng xây dựng khái niệm thương mại theo nghĩa hẹp theo đó “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích sinh lợi nhuận hoặc thực hiện các chính sách kinh tế xã hội”. Bên cạnh đó, Luật Thương mại năm 1997 còn định nghĩa thêm hành vi thương mại, theo đó, “Hành vi thương mại là hành vi của thương nhân trong hoạt động thương mại làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với các bên có liên quan”.
Hiện nay, khái niệm thương mại ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều được hiểu theo nghĩa rất rộng bao gồm các quan hệ nêu trên. Để phù hợp hơn với thông lệ quốc tế và trong quá trình từng bước hoàn thiện pháp luật cho yêu cầu hội nhập, Luật Thương mại năm 2005 ra đời thay thế cho Luật Thương mại năm 1997, đã xây dựng khái niệm hoạt động thương mại theo nghĩa rộng, theo đó hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác .2 Các đặc điểm của hoạt động thương mại 1.1 Hoạt động thương mại là hoạt động mang tính chất nghề nghiệp do thương nhân thực hiện Hoạt động thương mại được khái quát là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, tuy nhiên theo một số quan điểm thì các chủ thể pháp luật khi tiến hành các hoạt động phù hợp với nhu cầu hoặc mục đích tồn tại của mình, và trong chừng mực nhất định, các hoạt động đó đều được xem là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi cho bản thân chủ thể đó và cho toàn xã hội , vì thế chúng ta cần hiểu hoạt động thương mại ở đây là hoạt động nhằm mục đích sinh lời của thương nhân, do thương nhân thực hiện.2 Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi Mục đích sinh lợi là mục đích tạo ra lợi nhuận. Khi thực hiện hoạt động thương mại thì mục đích của thương nhân là muốn có lợi nhuận. Đây là điểm khác biệt với người thực hiện hành vi dân sự chỉ để thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng hàng ngày của họ.
Cần lưu ý là mục đích sinh lợi không đồng nghĩa với việc có lợi nhuận. Một người thực 1 hiện hành vi vì mục đích sinh lợi có thể không đạt được mục đích ấy có lợi nhuận. Vì vậy ta cần lưu ý là mục đích sinh lợi với kết quả của lợi nhuận.3 Hoạt động thương mại được thực hiện trên thị trường Nơi diễn ra hành vi thương mại là thị trường ở đó các thương nhân thực hiện hoạt động thương mại. Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động thương mại do thương nhân thực hiện.
Không có thị trường thì không thể xuất hiện hành vi thương mại và đó là lý do giải thích tại sao nếu chỉ mới có sự trao đổi thì chưa thể có thương mại. Chỉ khi nào sự trao đổi ấy diễn ra trên thị trường – thị trường xuất hiện – thì mới xuất hiện hoạt động thương mại.3 Phân loại hoạt động thương mại -Nhóm hoạt động mua bán hàng hóa: Hoạt động mua bán hàng hóa là hoạt động cơ bản, phổ biến nhất trong các hoạt động thương mại. Theo điều 3 khoản 8 Luật Thương mại 2005 thì mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận. Tùy vào phương thức giao dịch, hoạt động mua bán hàng hóa có thể phân thành mua bán hàng hóa thông thường và mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa.
Mua bán hàng hóa cũng có thể phân thành mua bán hàng hóa trong nước và mua bán hàng hóa quốc tế. - Nhóm hoạt động cung ứng dịch vụ: Theo điều 3 khoản 9 cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhân thanh toán; bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận. Luật Thương mại 2005 không quy định hết tất cả các dịch vụ mà chỉ quy định một số dịch vụ phổ biến và cơ bản như dịch vụ logistics, dịch vụ quá cảnh hàng hóa, dịch vụ giám định. -Nhóm hoạt động xúc tiến thương mại: Đây là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại.
- Nhóm hoạt động trung gian thương mại: Đây là các hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại. -Nhóm các hoạt động thương mại khác: Đây là các hoạt động thương mại bao gồm đấu thầu, đấu giá, gia công hàng hóa, cho thuê dịch vụ và nhượng quyền thương mại… và tất cả các hoạt động thương mại mà thương nhân hướng đến thực hiện nhằm mục đích sinh lợi.4 Sự ra đời của luật Thương mại Khi các trình độ của nền sản xuất hàng hóa phát triển đến một mức độ nhất định thì xã hội xuất hiện một tầng lớp người chuyên thực hiện các hoạt động mua đi bán lại kiếm lời, đó chính là các thương gia. Họ coi việc mua đi bán lại như là nghề nghiệp của mình, nghề đó chính là nghề thương mại. Sự xuất hiện của các thương gia và nghề thương mại đòi hỏi phải có một hệ thống các quy tắc pháp lý phù hợp để xác định địa vị pháp lý của các thương gia và các hành vi thương mại, chính vì thế mà luật thương mại ra đời.
Các quy phạm pháp luật thương mại thật ra đã là những quy tắc tồn tại lâu đời cùng với sự hình thành tầng lớp thương nhân. Các quan hệ xã hội phát triển đã làm nảy sinh nhu cầu ban hành các quy định pháp luật để điều chỉnh quy chế thương nhân và các hoạt động thương mại. Như vậy, cơ sở kinh tế cho việc hình thành luật thương mại là sự hình thành và phát triển của nền sản xuất hàng hóa, còn cơ sở xã hội là sự xuất hiện tầng lớp người mới trong xã hội chuyên làm nghề thương mại. 2 Khi mới hình thành, luật thương mại chỉ điều chỉnh quan hệ trao đổi, mua bán hàng hóa giữa các thương nhân.
Dần dần, luật thương mại đã mở rộng phạm vi điều chỉnh không chỉ các quan hệ mua bán mà hầu hết các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa và thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Việc ra đời những chế định pháp lý đặc thù – Luật thương mại, bên cạnh Luật dân sự được giải thích thương nhân là những chủ thể hành nghề độc lập, lấy các giao dịch thương mại làm nghề nghiệp chính, và thực hiện chúng không phải vì mục đích tiêu dùng, mà cơ bản nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Các giao dịch giữa các chủ thể này mang những đặc điểm khác với các giao dịch dân sự, thể hiện ở những điểm chính sau đây: - Các quan hệ thương mại cần được tổ chức đơn giản, thuận tiện và linh hoạt. Để lưu thông hàng hóa được nhanh chóng, luật pháp phải tạo điều kiện cho thương nhân giao kết, thực hiện và thanh lý hợp đồng một cách đơn giản nhất.
- Các hoạt động thương mại chỉ mang tính nghề nghiệp, cho nên liên quan đến nhiều bên thứ ba. Vì vậy, để bảo đảm an toàn pháp lý cho các hoạt động kinh doanh, cần thiết phải có các quy định về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thương mại và các quy định về đăng ký kinh doanh để hình thành tư cách thương nhân. Luật thương mại phải góp phần bảo vệ an toàn pháp lý cho mọi giao dịch và các bên có liên quan đến các hoạt động thương mại. - Khác với các chủ thể luật dân sự không tham gia kinh doanh, thương nhân là những chủ thể ý thức được các rủi ro trong kinh doanh, một mặt họ cần các quy định pháp luật linh hoạt hơn cho các giao dịch của mình, mặt khác họ cũng phải chấp nhận những điều kiện khắt khe hơn của Nhà nước để được hưởng một sự bảo hộ nhất định.
Nói một cách khác, sự giải phóng khỏi những thủ tục mang tính công thức để tiến hành các hoạt động thương mại một cách đơn giản và thuận tiện được đổi lấy bởi những điều kiện ngặt nghèo hơn khi muốn được Nhà nước bảo hộ. - Thương nhân muốn xử lý các tranh chấp trong kinh doanh phù hợp với đặc điểm kinh doanh của mình, ví dụ tại một cơ quan phán xét có kinh nghiệm trong lĩnh vực thương mại, đảm bảo tính bí mật và xử lý vụ việc nhanh gọn. Những lý do cơ bản nêu trên đã làm cho các quy định riêng về thương nhân và các hoạt động thương mại trở nên cần thiết.