CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐÈ CƠ BẢN VẺ LUẬT HIẾN PHÁP Trong khoa học pháp lí Việt Nam, thuật ngữ “luật hiến pháp” được hiểu theo ba giác độ khác nhau: 1. Luật hiến pháp là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam; 2. Luật hiển pháp là một khoa học pháp lí chuyên ngành; 3. Luật hiển pháp là một môn học trong chương trình đào tạo luật theo các câp độ khác nhau.
- Dưới đây sẽ xem xét cụ thể từng khía cạnh của thuật ngữ này. LUAT HIẾN PHÁP LÀ MỘT NGÀNH LUẬT TRONG HỆ THONG PHAP LUAT VIET NAM 1. Đối tượng điều chính của ngành luật hiến pháp Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, cơ sở quan trọng của việc hình thành một ngành luật là đối tượng điều chỉnh của ngành luật đó. Cũng như các ngành luật khác, đối tượng điều chỉnh của ngành luật hiến pháp Việt Nam là những quan hệ xã hội, tức là những quan hệ phát sinh trong hoạt động của con người.
Ngành luật hiến pháp tác động đến những quan hệ xã hội đó nhằm thiết lập một trật tự xã hội nhất định, phù hợp với ý chí nhà nước. Mỗi ngành luật có một phạm vi đối tượng điều chỉnh riêng. Phạm vi đối tượng điều chỉnh của ngành luật hiến pháp là những quan hệ xã hội cơ bản và quan trọng nhất gắn liền với việc xác định chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chính sách văn hoá-xã hội, 7 quốc phòng-an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ ngh1a Việt Nam. Như vậy, luật hiến pháp có phạm vi đối tượng điều chỉnh rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực của cuộc sống xã hội và Nhà nước.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là luật hiến pháp điểu „ chỉnh các quan hệ xã hội trong mọi lĩnh vực của cuộc sống nhà nước và xã hội. Ngược lại, luật hiến pháp chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản nhất, quan trọng nhất mà những quan hệ đó tạo thành nền tảng của chế độ nhà nước và xã hội, có liên quan tới việc thực hiện quyền lực nhà nước. Đó là những quan hệ giữa công đân, xã hội với Nhà nước và là quan hệ cơ bản xác định chế độ nhà nước. Ví đự: - Trong lĩnh vực chính trị, luật hiến pháp điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản sau: các quan hệ xã hội liên quan đến việc xác định nguồn gốc của quyền lực nhà nước, các hình thức nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước; các quan hệ xã hội xác định mối - quan hệ giữa Nhà nước, Đảng cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; các quan hệ xã hội xác định chính sách đối nội, chính sách đối ngoại của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Những quan hệ xã hội này là cơ sở để xác định chế độ chính trị của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; - Trong lĩnh vực kảnh tế, luật hiến pháp điều chỉnh những quan hệ xã hội sau: các quan hệ xã hội xác định các loại hình sở hữu, các thành phần kinh tế, chính sách của Nhà nước đối với các thành phân kinh tế, vai trò của Nhà nước đối với nền kinh tế; - Trong lĩnh vực quan hệ giữa công dân và Nhà nước, luật hiến pháp điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan tới việc xác định địa vị pháp lí cơ bản của công dân như: quốc tịch, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; 8 - Trong lĩnh vực tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, luật hiến pháp điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến việc xác định các nguyên tắc, cơ cầu tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Phương pháp điều chỉnh của ngành luật hiến pháp Để phân biệt ngành luật này với ngành luật khác không những cần phải căn cứ vào phạm vi đối tượng điều chỉnh mà còn phải dựa theo phương pháp điều chỉnh. Phương pháp điều chỉnh của một ngành luật là toàn bộ những phương thức, cách thức tác động pháp lí lên những quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của ngành luật đó. Ngành luật hiến pháp sử dụng các phương pháp sau: a.
Phương pháp cho phép Phương pháp này thường được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến thẩm quyền của các cơ quan nhà nước, quyên hạn của những người có chức trách trong bộ máy nhà nước. Nội dung của phương pháp này là quy phạm luật hiến pháp trao cho chủ thể luật biến pháp quyền thực hiện những hành vi nhất định. Ví đụ, khoản 1 Điều 80 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đại biểu Quốc hội có quyền chất vẫn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tưởng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng viện kiểm sắt nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước”. Quy phạm này trao cho đại biểu Quốc hội thực hiện quyền chất vấn những người đứng đầu các cơ quan nhà nước nói trên.
Phương pháp bắt buộc Phương pháp này thường được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan tới nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức và hoạt động của Nhà nước, của các cơ quan nhà nước. Nội dung của phương pháp này là quy phạm luật hiến pháp buộc chủ thể luật hiến pháp phải thực hiện hành ví nhất định nào đó. Ví dụ: Điều 47 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định”. Quy phạm luật hiến pháp này buộc mọi người phải thực hiện hành vi nộp thuế; khoản 2 Điều 80 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mgười bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kì họp hoặc tại phiên họp của Ủÿ ban thường vụ Quốc hội trong thời gian giữa hai kì họp Quốc hội.
Quy phạm luật hiến pháp này buộc những người đứng đầu các cơ quan nhà nước bị đại biểu Quốc hội chất vấn phải thực hiện hành vi trả lời trước Quốc hội tại kì họp hoặc tại phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong thời gian giữa hai kì họp Quốc hội. Phương pháp cấm Phương pháp này được sử dụng để điều chỉnh một số quan hệ xã hội liên quan đến hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc của công dân. Theo phương pháp cấm, quy phạm luật hiến pháp nghiêm cam chủ thể quan hệ pháp: luật hiển pháp thực hiện những hành vi nhất định. Ví đ„: Khoản 3 Điều :24 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.
Quy phạm này cấm các chủ thể quan hệ pháp luật hiển pháp không được thực hiện hành vi xâm phạm đến quyên tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công - dân đồng thời cũng cắm công dân lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để thực hiện hành vi trái với pháp luật và chính sách của Nhà nước. đ) Ngoài ba phương pháp nói trên, luật hiến pháp còn sử dụng phương pháp xác lập những nguyên tắc chung mang tính định hướng cho các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật hiến pháp. Ví đụ: Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1) Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyên xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. 2) Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ ;tất cả quyên lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nên tảng là liên mình giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí 10 thức.
3) Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hop va kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Những quy định trên đây có ý nghĩa là tư tưởng chỉ đạo cho tất cả các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước, vì vậy đó là quy định xác lập những nguyên tắc chung. Định nghĩa ngành luật hiến pháp Căn cứ vào đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh, có thể đưa ra định nghĩa chung về ngành luật hiển pháp như sau: Ngành luật hiển pháp là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản và quan trọng gắn với việc xác định chế độ chính trị, chính sách kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng và an ninh, đối ngoại, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tô chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Hệ thống ngành luật hiến pháp Cũng giống như bắt cứ hệ thống nào, hệ thống ngành luật hiến pháp bao gồm các yếu tô cầu thành, các nguyên tắc tổ chức của hệ thống và những quan hệ giữa các yếu tổ đó.
Thanh phan co ban của hệ thống ngành luật hiến pháp gồm các nguyên tắc, các chế định và các quy phạm luật hiến pháp. Các nguyên tắc / Các nguyên tắc là nhân tố cơ bản được thể hiện trong nội dung của ngành luật hiến pháp. Dựa trên các nguyên tắc này mà luật hiến pháp được xây dựng thành một hệ thống quy phạm pháp luật hoàn chỉnh đồng thời thông qua hệ thống quy phạm đó việc điều chỉnh các quan hệ pháp luật hiến pháp được thực hiện. Chính những nguyên tắc tạo thành nòng cốt của hệ thống ngành luật hiến pháp và làm cho hệ thống này có xu hướng thông nhất.
Luật hiến pháp có hai loại nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc chung và nguyên tắc cụ thể. 11 - Nguyên tắc chung là nguyên tắc xuyên suốt chỉ phối toàn bộ nội dung của hệ thống ngành luật hiến pháp. Nguyên tắc chung không điều chỉnh trực tiếp các quan hệ xã hội mà tạo cơ sở xây dựng hệ thống ngành luật hiến pháp thành hệ thống thống nhất.