Giáo trình kinh tế vi mô nghề kế toán doanh nghiệp trung cấp phần 2 trường cđ nghề việt đức hà tĩnh

Giáo trình kinh tế vi mô phần 2 dành cho nghề kế toán doanh nghiệp trung cấp tại trường Cao đẳng nghề Việt Đức Hà Tĩnh, tài liệu học tập chuẩn.

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Kinh Tế Vi Mô

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

giáo trình

2023

184
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

6. CHƯƠNG 6: THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH KHÔNG HOÀN HẢO

6.1. Đặc điểm và nguồn gốc của thị trường cạnh tranh không hoàn hảo

6.1.1. Đặc điểm chung

6.1.2. Nguồn gốc

6.1.2.1. Lợi thế theo quy mô
6.1.2.2. Tính khác biệt của sản phẩm
6.1.2.3. Những nguyên nhân có tính chất pháp lý ngăn cản cạnh tranh
6.1.2.3.1. Việc cấp giấy phép kinh doanh hạn chế
6.1.2.3.2. Luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
6.1.2.3.3. Chính sách ngoại thương của Nhà nước
6.1.2.3.4. Sở hữu tư nhân về một loại đầu vào đặc biệt khan hiếm

6.2. Thị trường độc quyền thuần túy

6.2.1. Quyết định về sản lượng và giá cả của nhà độc quyền

Tóm tắt

I. Tổng quan về Giáo trình Kinh tế Vi mô cho Kế toán Doanh nghiệp

Giáo trình Kinh tế Vi mô cho Kế toán Doanh nghiệp là một tài liệu quan trọng giúp sinh viên và các chuyên gia hiểu rõ về các nguyên lý cơ bản của kinh tế vi mô. Nội dung giáo trình không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết mà còn ứng dụng thực tiễn trong lĩnh vực kế toán doanh nghiệp. Việc nắm vững các khái niệm như cung cầu, chi phí, và doanh thu là rất cần thiết để đưa ra các quyết định kinh doanh hiệu quả.

1.1. Nội dung chính của giáo trình Kinh tế Vi mô

Giáo trình bao gồm các chủ đề như nguyên lý kinh tế vi mô, phân tích chi phí, và quyết định kinh doanh. Những nội dung này giúp người học có cái nhìn tổng quát về cách thức hoạt động của thị trường và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của doanh nghiệp.

1.2. Tầm quan trọng của Kinh tế Vi mô trong Kế toán Doanh nghiệp

Kinh tế vi mô cung cấp các công cụ phân tích cần thiết để hiểu rõ hơn về hành vi của người tiêu dùng và doanh nghiệp. Điều này rất quan trọng trong việc lập kế hoạch tài chính và dự báo doanh thu cho doanh nghiệp.

II. Những thách thức trong việc áp dụng Kinh tế Vi mô vào Kế toán Doanh nghiệp

Việc áp dụng các nguyên lý của Kinh tế Vi mô vào thực tiễn kế toán doanh nghiệp không phải lúc nào cũng dễ dàng. Các doanh nghiệp thường phải đối mặt với nhiều thách thức như thay đổi trong hành vi người tiêu dùng, biến động giá cả, và cạnh tranh trên thị trường. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến quyết định giá cả và chiến lược kinh doanh.

2.1. Biến động giá cả và ảnh hưởng đến chi phí

Biến động giá cả có thể làm thay đổi chi phí sản xuất và ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Do đó, việc theo dõi và phân tích các yếu tố này là rất quan trọng để đưa ra quyết định đúng đắn.

2.2. Cạnh tranh và chiến lược giá

Trong môi trường cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có chiến lược giá hợp lý để thu hút khách hàng. Việc hiểu rõ về cung cầuđường cầu là rất cần thiết để tối ưu hóa lợi nhuận.

III. Phương pháp phân tích chi phí trong Kinh tế Vi mô

Phân tích chi phí là một phần quan trọng trong Kinh tế Vi mô, giúp doanh nghiệp xác định được chi phí sản xuất và tối ưu hóa quy trình sản xuất. Các phương pháp như phân tích chi phí biênchi phí cố định sẽ được trình bày chi tiết trong giáo trình.

3.1. Phân tích chi phí biên và quyết định sản xuất

Phân tích chi phí biên giúp doanh nghiệp xác định mức sản lượng tối ưu để tối đa hóa lợi nhuận. Doanh nghiệp cần phải so sánh chi phí biên với doanh thu biên để đưa ra quyết định sản xuất hợp lý.

3.2. Chi phí cố định và ảnh hưởng đến lợi nhuận

Chi phí cố định là những chi phí không thay đổi theo mức sản lượng. Việc hiểu rõ về chi phí cố định giúp doanh nghiệp lập kế hoạch tài chính và dự báo lợi nhuận chính xác hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn của Kinh tế Vi mô trong Kế toán Doanh nghiệp

Kinh tế Vi mô không chỉ là lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong kế toán doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có thể áp dụng các nguyên lý này để cải thiện hiệu quả hoạt động và tăng cường khả năng cạnh tranh.

4.1. Tối ưu hóa quy trình sản xuất

Việc áp dụng các nguyên lý kinh tế vi mô giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình sản xuất, từ đó giảm chi phí và tăng lợi nhuận. Các doanh nghiệp cần phân tích kỹ lưỡng để tìm ra điểm cân bằng giữa chi phí và sản lượng.

4.2. Dự báo doanh thu và lập kế hoạch tài chính

Dự báo doanh thu là một phần quan trọng trong kế toán doanh nghiệp. Việc áp dụng các mô hình kinh tế vi mô giúp doanh nghiệp dự đoán chính xác hơn về doanh thu trong tương lai, từ đó lập kế hoạch tài chính hiệu quả.

V. Kết luận và tương lai của Kinh tế Vi mô trong Kế toán Doanh nghiệp

Kinh tế Vi mô sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc định hình các quyết định kinh doanh trong tương lai. Các doanh nghiệp cần phải cập nhật kiến thức và áp dụng các nguyên lý này để duy trì sự cạnh tranh và phát triển bền vững.

5.1. Xu hướng phát triển của Kinh tế Vi mô

Kinh tế Vi mô đang ngày càng trở nên quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa và công nghệ phát triển. Doanh nghiệp cần phải nắm bắt các xu hướng mới để tối ưu hóa hoạt động kinh doanh.

5.2. Tầm quan trọng của việc đào tạo và cập nhật kiến thức

Đào tạo và cập nhật kiến thức về Kinh tế Vi mô là rất cần thiết cho các chuyên gia kế toán. Việc này không chỉ giúp nâng cao năng lực mà còn giúp doanh nghiệp phát triển bền vững trong tương lai.

19/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 6 THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH KHÔNG HOÀN HẢO Trong thế giới kinh tế thực, các thị trường thường không phải là thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Khi muốn ký một hợp đồng sử dụng điện, chúng ta không có cơ hội lựa chọn các nhà cung ứng điện khác nhau, vì trên thị trường chỉ có một nhà cung ứng điện độc quyền duy nhất. Khi muốn sử dụng dịch vụ điện thoại di động, chúng ta đối diện với một thị trường mà trên đó chỉ có một số ít người cung ứng. Tuy nhiên, nếu muốn kiếm một chỗ ăn trưa, chúng ta có thể có nhiều nhà hàng để lựa chọn, và đôi khi, sự lựa chọn là không dễ dàng vì các sản phẩm mà chúng cung ứng là không giống nhau.

Trên những thị trường như vậy, những người bán không còn là những người chấp nhận giá. Vì thế, mô hình mà chúng ta nghiên cứu ở chương trước không đủ để giải thích hành vi kinh doanh của họ. Chúng ta cần phát triển mô hình tổng quát đã trình bày ở chương 4 để xem xét ứng xử của các doanh nghiệp trên các thị trường mà chúng ít nhiều có quyền lực thị trường. Đặc điểm và nguồn gốc của thị trường cạnh tranh không hoàn hảo Đặc điểm chung Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo gắn liền với khả năng chi phối hay kiểm soát giá của những người bán hay người mua riêng biệt.

Xét từ phía người bán, trên một thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, doanh nghiệp không phải là người chấp nhận giá mà là người định giá, có khả năng chi phối giá, ở những mức độ khác nhau. Tùy theo số lượng doanh nghiệp (do đó, ở một chừng mực nhất định là khả năng chi phối giá cao hay thấp), người ta chia thị trường cạnh tranh không hoàn hảo thành các dạng: thị trường độc quyền thuần túy (thị trường độc quyền của một người), thị trường độc quyền nhóm và thị trường cạnh tranh có tính chất độc quyền. 194 Đặc điểm chung của các dạng thị trường cạnh tranh không hoàn hảo khác nhau là: * Đường cầu mà một doanh nghiệp cạnh tranh không hoàn hảo đối diện là một đường dốc xuống. Điều này xuất phát từ chính định nghĩa về thị trường cạnh tranh không hoàn hảo: doanh nghiệp trên thị trường này ít, nhiều có khả năng chi phối giá.

Do đó, đường cầu đối diện với nó không thể là một đường nằm ngang, như trường hợp doanh nghiệp chấp nhận giá. Đường cầu này cũng không thể là đường dốc lên, vì người tiêu dùng không sẵn lòng trả giá cao hơn chỉ vì sản lượng mà doanh nghiệp cung cấp và bán ra nhiều hơn. Tính dốc xuống của đường cầu mà doanh nghiệp đối diện phản ánh muốn bán được khối lượng hàng lớn hơn, doanh nghiệp phải hạ giá. Khả năng chi phối giá của doanh nghiệp thể hiện ở chỗ: giá cả mà nó có thể định ra đối với các hàng hóa của mình phụ thuộc vào khối lượng mà nó bán ra.

Bằng cách chủ động thay đổi sản lượng, doanh nghiệp có thể tác động đến mức giá của hàng hóa trên thị trường. Với mức sản lượng bán ra thấp (ví dụ q1 như trong hình 6.1), doanh nghiệp có thể định giá tương đối cao (mức giá P1). Khi sản lượng cung ứng tương đối cao (q2), doanh nghiệp phải định giá thấp hơn (P2) mới mong bán được hết hàng.1: Đường cầu đối diện với doanh nghiệp cạnh tranh không hoàn hảo 195 * Doanh thu biên mà doanh nghiệp thu được nhờ bán thêm một đơn vị sản lượng nhỏ hơn mức giá tương ứng (MR < P). Đối với một doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo, đường cầu đối diện với nó là một đường nằm ngang, do đó, khi doanh nghiệp bán hàng hóa với một khối lượng lớn hơn, nó không phải hạ giá.

Doanh thu biên của việc bán thêm một đơn vị sản phẩm trong trường hợp này chính bằng mức giá. Khi ta khẳng định, đường cầu đối diện với một doanh nghiệp cạnh tranh không hoàn hảo là một đường dốc xuống, chúng ta muốn hàm ý là, để bán được một khối lượng hàng hóa lớn hơn, doanh nghiệp phải hạ đơn giá tính cho mỗi đơn vị sản phẩm xuống. Vì thế, khi bán thêm một đơn vị sản phẩm, doanh thu mà doanh nghiệp thu thêm được bằng mức giá của đơn vị cuối cùng mà doanh nghiệp bán ra trừ đi phần doanh thu mất đi do doanh nghiệp phải hạ giá bán đối với những đơn vị sản phẩm trước đó. Điều đó cho thấy, doanh thu biên của đơn vị sản phẩm cuối cùng nhỏ hơn mức giá tương ứng.

Nếu cần, ta có thể diễn giải điều này rõ ràng hơn như sau: Theo định nghĩa, ta có MR(q+1) = TR(q+1) – TRq, trong đó MR(q+1) là doanh thu biên của đơn vị sản phẩm thứ (q+1), TR(q+1) là tổng doanh thu của khối lượng hàng hóa gồm (q+1) đơn vị sản phẩm, còn TRq là tổng doanh thu của khối lượng hàng hóa gồm q sản phẩm. Gọi Pq+1 và Pq lần lượt là các mức giá tương ứng với các khối lượng hàng hóa trên, ta có: TR(q+1) = (q+1). Pq+1 và TRq = q. Do Pq+1 < Pq nên số hạng thứ nhất trong biểu thức cuối cùng là một số âm.

Từ đó dễ dàng suy ra MRq+1 < Pq+1 hay tổng quát hơn, MR < P. *Khi theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp cạnh tranh không hoàn hảo luôn định giá cao hơn chi phí biên của đơn vị sản phẩm cuối cùng (P > MC). Thật vậy, để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp phải lựa chọn sản lượng sao cho tại đơn vị sản phẩm cuối cùng MR = MC. Tuy nhiên, theo đặc điểm trên, MR < P.

Ta có thể minh họa điều đó bằng 196 hình 6. Theo tính chất doanh thu biên luôn nhỏ hơn mức giá tương ứng ở mỗi mức sản lượng, đường doanh thu biên nằm phía dưới đường cầu mà doanh nghiệp đối diện (đường cầu chính là đường giá cả mà doanh nghiệp có thể đặt ứng với mỗi mức sản lượng). Sản lượng tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp là q*, tương ứng với giao điểm của đường doanh thu biên MR với đường chi phí biên MC. Mức giá mà doanh nghiệp có thể định là P*, được suy ra từ đường cầu ứng với sản lượng q*.

Rõ ràng P* lớn hơn MC*, tức chi phí biên của đơn vị sản lượng cuối cùng khi sản lượng là q*. P MC P* MC* MR q* q Hình 6.2: Mức giá mà doanh nghiệp cạnh tranh không hoàn hảo định cao hơn mức chi phí biên Khả năng định giá cao hơn chi phí biên của đơn vị sản lượng cuối cùng nói lên quyền lực thị trường của doanh nghiệp. Để lượng hóa, người ta đánh giá quyền lực này bằng chỉ số Lerner (ký hiệu là L): L = (P - MC) / P, trong đó 0  L < 1. Chỉ số Lerner càng cao, quyền lực thị trường của doanh nghiệp càng lớn.

Một doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo là một doanh nghiệp không có quyền lực thị trường, vì thế L = 0. 197 Nguồn gốc Như chương trước chúng ta đã nghiên cứu, thị trường cạnh tranh hoàn hảo chỉ xuất hiện và tồn tại trong những điều kiện nhất định: số lượng doanh nghiệp tham gia lớn, quy mô của mỗi doanh nghiệp nhỏ; sản phẩm của các doanh nghiệp giống hệt nhau, có thể thay thế cho nhau một cách hoàn hảo; những người tham gia thị trường đều có thông tin hoàn hảo; các doanh nghiệp có thể dễ dàng gia nhập ngành cũng như rút lui khỏi ngành. Khi một trong những điều kiện này không được thỏa mãn, thị trường không phải là thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Khi đó, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo sẽ xuất hiện.

Như thế, nguồn gốc kinh tế của sự xuất hiện các thị trường cạnh tranh không hoàn hảo chính là các yếu tố phá vỡ các điều kiện cần thiết nuôi dưỡng thị trường cạnh tranh hoàn hảo nói trên. * Lợi thế theo quy mô Lợi thế theo quy mô phản ánh khoảng sản lượng mà ở đó, quy mô sản lượng càng tăng thì chi phí bình quân dài hạn càng hạ. Tuy nhiên, ở các ngành khác nhau, quy mô sản lượng tối thiểu có hiệu quả cũng khác nhau. Ở những ngành mà quy mô tối thiểu có hiệu quả tương đối nhỏ so với quy mô chung của thị trường, miền lợi thế theo quy mô của mỗi doanh nghiệp tương đối hẹp.

Doanh nghiệp sớm vấp phải miền “bất lợi thế theo quy mô”, tức là khoảng sản lượng mà ở đó, chi phí bình quân dài hạn tăng lên theo chiều hướng tăng của sản lượng. Trong những ngành như vậy, số lượng doanh nghiệp có thể cùng tồn tại khá nhiều. Ngành có thể là một ngành cạnh tranh hoàn hảo. Với những ngành mà quy mô tối thiểu có hiệu quả tương đối lớn so với quy mô chung của thị trường, đến một lúc nào đó, số lượng doanh nghiệp có thể cùng hoạt động trong ngành tương đối ít.

Cạnh tranh trên thị trường sẽ loại bỏ nhiều doanh nghiệp và chỉ cho phép một vài doanh nghiệp sớm đạt được khả năng sản xuất ở quy mô sản lượng có hiệu quả trụ lại. Trong trường hợp này, ngành sẽ trở thành một ngành cạnh tranh không hoàn hảo. Thậm chí, ở những ngành như phân phối điện, sản lượng tối thiểu có hiệu quả thường 198 lớn đến mức nó chỉ cho phép một doanh nghiệp duy nhất hoạt động trong ngành. Trong trường hợp như vậy, ngành trở thành ngành độc quyền thuần túy.

Doanh nghiệp độc chiếm được thị trường nhờ lợi thế theo quy mô được gọi là doanh nghiệp độc quyền tự nhiên. Tóm lại, do tính chất kỹ thuật, ở một số ngành, sản lượng cần tập trung vào một nhóm nhỏ các doanh nghiệp mới đảm bảo được hiệu quả kỹ thuật. Khi ngành chỉ dành chỗ cho một số ít, thậm chí là một doanh nghiệp hoạt động, nó trở thành ngành cạnh tranh không hoàn hảo. P LAC2 LAC3 P2 LAC1 P1 0 q1 q2 Q2 Q1 Q Hình 6.3: Lợi thế theo quy mô và cấu trúc thị trường.

Với những ngành mà quy mô tối thiểu có hiệu quả của các hãng quá nhỏ (ví dụ q1 tương ứng với đường chi phí bình quân dài hạn LAC1), số lượng các hãng có thể duy trì được hoạt động của mình tương đối nhiều (tại mức giá hòa vốn P1, sản lượng q1 của từng hãng khá nhỏ so với sản lượng chung Q1 của thị trường). Trong một ngành mà đường chi phí trung bình dài hạn của một hãng là LAC2, số lượng hãng tồn tại dài hạn được trong ngành không nhiều. Còn khi LAC3 mới là chi phí trung bình 199 dài hạn của một hãng, với đường cầu thị trường vẫn là D, về dài hạn ngành chỉ cho phép tồn tại một doanh nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ