Giáo trình kinh tế vi mô nghề kế toán doanh nghiệp trung cấp phần 1 trường cđ nghề việt đức hà tĩnh

Giáo trình kinh tế vi mô nghề kế toán doanh nghiệp trung cấp phần 1 trường CĐ nghề Việt Đức Hà Tĩnh cung cấp kiến thức cơ bản và ứng dụng thực tiễn.

Chuyên ngành

Kinh tế vi mô

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

giáo trình

2017

194
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

Lời nói đầu

1. Chương 1: Giới thiệu chung về Kinh tế học

1.1. Hoạt động kinh tế và những vấn đề cơ bản của nó

1.1.1. Hoạt động kinh tế-một dạng thái hoạt động đặc biệt của đời sống xã hội

1.2. Đường giới hạn khả năng sản xuất

1.3. Các vấn đề kinh tế cơ bản của xã hội

1.4. Các hệ thống kinh tế

1.5. Kinh tế học là gì?

1.5.1. Định nghĩa về kinh tế học

1.5.2. Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô

1.5.3. Phân tích thực chứng và phân tích chuẩn tắc trong kinh tế học

1.6. Các công cụ phân tích kinh tế

2. Chương 2: Thị trường : cầu, cung và giá cả

2.1. Thị trường – Khái niệm và phân loại

2.1.1. Khái niệm thị trường

2.1.2. Phân loại thị trường

2.2. Cầu, cung và giá cả thị trường

2.3. Cân bằng cầu-cung

2.4. Sự thay đổi giá cân bằng

2.4.1. Những yếu tố làm dịch chuyển đường cầu

2.4.2. Những yếu tố làm dịch chuyển đường cung

2.4.3. Di chuyển dọc theo đường cầu và dịch chuyển đường cầu

2.5. Độ co giãn của cầu và cung

2.5.1. Độ co giãn của cầu

2.5.2. Độ co giãn của cung

2.6. Một vài ứng dụng về phân tích cung-cầu

2.6.1. Thuế và ảnh hưởng của thuế

2.6.2. Vấn đề kiểm soát giá

3. Chương 3: Sự lựa chọn của người tiêu dùng

3.1. Sở thích của người tiêu dùng

3.1.1. Những giả định cơ bản về hành vi của người tiêu dùng

3.1.2. Đường bàng quan

3.2. Sự ràng buộc ngân sách

3.2.1. Đường ngân sách

3.2.2. Ảnh hưởng của thu nhập và giá cả đối với đường ngân sách

3.3. Sự lựa chọn của người tiêu dùng

3.3.1. Tối đa hóa độ thỏa dụng của người tiêu dùng

3.3.2. Sự thay đổi trong điểm lựa chọn của người tiêu dùng

3.4. Đường cầu cá nhân của người tiêu dùng và đường cầu thị trường

3.4.1. Rút ra đường cầu cá nhân từ sự lựa chọn của người tiêu dung

3.4.2. Đường cầu thị trường

4. Chương 4: Tổ chức và hành vi cung ứng đầu ra của doanh nghiệp

4.1. Tổ chức doanh nghiệp

4.2. Phân tích chi phí

4.2.1. Chi phí kế toán và chi phí kinh tế

4.2.2. Các thước đo chi phí

4.2.3. Chi phí ngắn hạn và chi phí dài hạn

4.2.4. Lợi thế và bất lợi thế kinh tế của quy mô

4.3. Mô hình tổng quát về hành vi cung ứng của doanh nghiệp

4.3.1. Một vài khái niệm có liên quan

4.3.2. Các điều kiện tối đa hóa lợi nhuận

4.3.3. Lựa chọn sản lượng của doanh nghiệp khi nhằm mục tiêu tối đa hóa doanh thu

5. Chương 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo

5.1. Khái niệm, đặc điểm của thị trường cạnh tranh hoàn hảo

5.1.1. Đặc điểm và điều kiện tồn tại của thị trường cạnh tranh hoàn hảo

5.2. Cung ứng sản phẩm của doanh gnhiệp cạnh tranh hoàn hảo

5.2.1. Cung ứng trong ngắn hạn

5.2.2. Cung ứng trong dài hạn

5.3. Cung ứng sản phẩm của ngành cạnh tranh hoàn hảo

5.3.1. Đường cung ngắn hạn của ngành

5.3.2. Đường cung dài hạn của ngành

6. Chương 6: Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo

6.1. Đặc điểm và nguồn gốc của thị trường cạnh tranh không hoàn hảo

6.1.1. Đặc điểm chung

6.2. Thị trường độc quyền thuần túy

6.2.1. Quyết định về sản lượng và giá cả của nhà độc quyền

6.2.2. Sự phân biệt đối xử về giá của doanh nghiệp độc quyền

6.3. Thị trường độc quyền nhóm

6.3.1. Khái niệm và đặc trưng

6.3.2. Cạnh tranh và hợp tác trên thị trường độc quyền nhóm

6.4. Thị trường cạnh tranh có tính chất độc quyền

6.4.1. Lựa chọn sản lượng và định giá…

6.4.2. Cân bằng dài hạn

7. Chương 7: Thị trường các yếu tố sản xuất và sự lựa chọn của doanh nghiệp

7.1. Hàm sản xuất và quy luật về sản phẩm biên

7.1.1. Hàm sản xuất

7.1.2. Quy luật sản phẩm biên có xu hướng giảm dần

7.2. Cầu về các yếu tố sản xuất

7.2.1. Cầu về các yếu tố sản xuất của một doanh nghiệp

7.2.2. Cầu thị trường về yếu tố sản xuất

7.3. Cung về các yếu tố sản xuất và sự cân bằng trên thị trường yếu tố sản xuất

7.3.1. Cung về các yếu tố sản xuất

7.3.2. Cân bằng cung, cầu về yếu tố sản xuất trên thị trường cạnh tranh (ngắn hạn, dài hạn)

7.3.3. Tiền thuê (yếu tố) tối thiểu và tiền thuê kinh tế

8. Chương 8: Thị trường lao động

8.1. Sự cân bằng trên thị trường lao động

8.1.1. Cầu, cung và cân bằng trên thị trường lao động

8.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự cân bằng của thị trường lao động

8.2. Sự chênh lệch về lương

8.2.1. Những lý do chủ yếu dẫn đến sự chênh lệch về lương

8.2.2. Vốn nhân lực và sự khác biệt về tiền lương

9. Chương 9: Thị trường vốn và đất đai

9.1. Thị trường vốn

9.1.1. Thị trường dịch vụ vốn hiện vật

9.1.2. Thị trường vốn hiện vật

9.2. Thị trường đất đai (và các tài nguyên thiên nhiên khác)

9.2.1. Đặc điểm của thị trường đất đai và sự hình thành tiền thuê đất

9.2.2. Thuế đất và các tài nguyên khan hiếm khác

9.2.3. Phân bổ đất đai cho những mục tiêu sử dụng khác nhau

10. Chương 10: Vai trò kinh tế của nhà nước

10.1. Thị trường và hiệu quả

10.1.1. Khái niệm hiệu quả Pareto

10.1.2. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo và hiệu quả Pareto

10.2. Các khuyết tật thị trường

10.3. Vai trò kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường

10.3.1. Mục tiêu (chức năng) công cụ

10.3.2. Sửa chữa, khắc phục các khuyết tật của thị trường

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng quan về Giáo trình Kinh tế vi mô cho Kế toán doanh nghiệp

Giáo trình Kinh tế vi mô cho Kế toán doanh nghiệp là tài liệu quan trọng giúp sinh viên nắm vững các nguyên lý cơ bản của kinh tế học. Nội dung giáo trình không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết mà còn giúp sinh viên áp dụng vào thực tiễn trong lĩnh vực kế toán doanh nghiệp. Việc hiểu rõ các khái niệm như cung cầu, chi phí sản xuất và thị trường sẽ giúp sinh viên có cái nhìn tổng quát về hoạt động kinh tế.

1.1. Khái niệm và vai trò của Kinh tế vi mô trong Kế toán doanh nghiệp

Kinh tế vi mô nghiên cứu hành vi của các cá nhân và doanh nghiệp trong việc ra quyết định kinh tế. Trong kế toán doanh nghiệp, việc hiểu rõ các nguyên lý này giúp các kế toán viên đưa ra các quyết định tài chính hợp lý, từ đó tối ưu hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp.

1.2. Mục tiêu của Giáo trình Kinh tế vi mô cho Kế toán doanh nghiệp

Mục tiêu của giáo trình là trang bị cho sinh viên những kiến thức cần thiết để phân tích và giải quyết các vấn đề kinh tế trong doanh nghiệp. Điều này bao gồm việc hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí, giá cả và quyết định tiêu dùng.

II. Những thách thức trong việc áp dụng Kinh tế vi mô vào Kế toán doanh nghiệp

Việc áp dụng các nguyên lý Kinh tế vi mô vào thực tiễn kế toán doanh nghiệp không phải là điều dễ dàng. Các kế toán viên thường phải đối mặt với nhiều thách thức như biến động của thị trường, sự thay đổi trong chính sách kinh tế và các yếu tố bên ngoài khác. Những thách thức này đòi hỏi kế toán viên phải có khả năng phân tích và đưa ra quyết định nhanh chóng.

2.1. Biến động thị trường và ảnh hưởng đến quyết định kế toán

Biến động của thị trường có thể ảnh hưởng lớn đến giá cả và chi phí sản xuất. Kế toán viên cần phải theo dõi sát sao các yếu tố này để điều chỉnh các báo cáo tài chính cho phù hợp.

2.2. Sự thay đổi trong chính sách kinh tế và tác động đến doanh nghiệp

Chính sách kinh tế của nhà nước có thể thay đổi theo thời gian, ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Kế toán viên cần nắm bắt kịp thời các thay đổi này để đảm bảo rằng doanh nghiệp tuân thủ các quy định và tối ưu hóa lợi nhuận.

III. Phương pháp phân tích chi phí trong Kinh tế vi mô cho Kế toán doanh nghiệp

Phân tích chi phí là một phần quan trọng trong Kinh tế vi mô, giúp kế toán viên hiểu rõ hơn về cấu trúc chi phí của doanh nghiệp. Việc phân tích này không chỉ giúp xác định chi phí sản xuất mà còn hỗ trợ trong việc đưa ra các quyết định chiến lược.

3.1. Các loại chi phí trong doanh nghiệp và cách phân tích

Có nhiều loại chi phí trong doanh nghiệp như chi phí cố định, chi phí biến đổi và chi phí cơ hội. Việc phân tích từng loại chi phí giúp kế toán viên đưa ra các quyết định hợp lý về sản xuất và tiêu dùng.

3.2. Ứng dụng của phân tích chi phí trong quyết định kinh doanh

Phân tích chi phí giúp doanh nghiệp xác định được mức giá bán hợp lý, từ đó tối ưu hóa lợi nhuận. Kế toán viên cần sử dụng các công cụ phân tích chi phí để đưa ra các quyết định kinh doanh hiệu quả.

IV. Ứng dụng thực tiễn của Kinh tế vi mô trong Kế toán doanh nghiệp

Kinh tế vi mô không chỉ là lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong kế toán doanh nghiệp. Việc áp dụng các nguyên lý kinh tế vào thực tiễn giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn và tăng cường khả năng cạnh tranh.

4.1. Tối ưu hóa quy trình sản xuất và chi phí

Việc áp dụng các nguyên lý Kinh tế vi mô giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình sản xuất, từ đó giảm thiểu chi phí và tăng cường hiệu quả hoạt động.

4.2. Đưa ra quyết định giá cả hợp lý

Kế toán viên cần sử dụng các công cụ phân tích cung cầu để đưa ra quyết định giá cả hợp lý, đảm bảo doanh nghiệp có thể cạnh tranh trên thị trường.

V. Kết luận và tương lai của Kinh tế vi mô trong Kế toán doanh nghiệp

Kinh tế vi mô đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các quyết định kinh tế trong doanh nghiệp. Tương lai của Kinh tế vi mô trong Kế toán doanh nghiệp sẽ tiếp tục phát triển, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hóa và công nghệ thông tin ngày càng phát triển.

5.1. Xu hướng phát triển của Kinh tế vi mô trong Kế toán doanh nghiệp

Kinh tế vi mô sẽ tiếp tục được áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau của kế toán doanh nghiệp, giúp nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh.

5.2. Tầm quan trọng của việc cập nhật kiến thức Kinh tế vi mô

Kế toán viên cần thường xuyên cập nhật kiến thức về Kinh tế vi mô để có thể áp dụng hiệu quả vào công việc, từ đó nâng cao giá trị bản thân và đóng góp cho sự phát triển của doanh nghiệp.

19/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ KINH TẾ HỌC Chương này nhằm giới thiệu với người đọc cái nhìn tổng quan về kinh tế học, mà kinh tế học vi mô là một phân nhánh quan trọng của nó. Để làm điều này, trước tiên chúng ta hãy làm quen với một số khái niệm kinh tế đơn giản như tính khan hiếm, giới hạn khả năng sản xuất, sản phẩm kinh tế… nhằm hiểu được những vấn đề kinh tế cơ bản mà mọi xã hội đều phải đương đầu giải quyết. Đây cũng là cơ sở để chúng ta hiểu giới hạn, phạm vi nghiên cứu của kinh tế học, phân biệt kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô như là những cách thức tiếp cận khác nhau về đối tượng nghiên cứu. Chúng ta cũng sẽ thấy cách phân tích thực chứng có thể khác như thế nào với cách phân tích chuẩn tắc, mặc dù trong cuộc sống thực chúng ta cần cả hai cách phân tích này.

Cuối cùng, chúng ta cũng sẽ bước đầu làm quen với một số công cụ mà các nhà kinh tế thường sử dụng để nghiên cứu các hiện tượng trong đời sống kinh tế. Những công cụ này sẽ được trở đi, trở lại nhiều lần trong toàn bộ môn học với mục đích giúp chúng ta có thể tư duy như một nhà kinh tế. Họat động kinh tế và những vấn đề cơ bản của nó Hoạt động kinh tế - một dạng thái hoạt động đặc biệt của đời sống xã hội Trong cuộc sống của mình, con người thực hiện vô vàn các dạng hoạt động khác nhau: ăn uống, học tập, lao động, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí v.v… Các lĩnh vực hoạt động của con người cũng được phân chia một cách ước lệ thành kinh tế, thể thao, chính trị, văn hóa v.v… Thật ra, trên thực tế, sự phân chia như vậy chỉ có ý nghĩa tương đối. Chúng ta chẳng thường nghe nói, ngày nay bóng đá không chỉ là môn thể thao hấp dẫn hàng tỷ người trên thế giới mà nó còn là một ngành công nghiệp khổng lồ tạo ra hàng triệu việc làm, với nhiều tỷ đô la lợi nhuận.

Vậy thì kinh doanh bóng đá có phải là một hoạt động kinh tế? Khi các nhà kinh tế học xem quốc phòng như một hàng hóa công cộng mà nhà nước phải cung 8 cấp, thì phải chăng chi tiêu cho quốc phòng như thế nào là hiệu quả không phải là một vấn đề kinh tế? Rõ ràng, trong các hoạt động của mình, con người luôn luôn phải đối diện với những vấn đề kinh tế. Chúng ta có thể dễ dàng xem việc sản xuất lúa gạo, lắp ráp ô tô, hay quá trình tổ chức bán hàng ở các siêu thị là những hoạt động kinh tế song các hoạt động khác (trong các lĩnh vực văn hóa, thể thao, chính trị, tôn giáo v.v…), dù không trực tiếp biểu hiện ra như là các hoạt động kinh tế thì chúng ít nhiều cũng liên quan đến các vấn đề kinh tế. Trong các hoạt động này, khi ra quyết định người ta vẫn luôn luôn phải lựa chọn giữa các phương án sử dụng nguồn lực khác nhau để đạt được một mục đích nào đó. Khi làm như vậy, thực chất người ta đã tiếp cận, xử lý các vấn đề kinh tế.

Như vây, hoạt động kinh tế với tư cách là một hoạt động sử dụng nguồn lực của xã hội nhằm tạo ra các sản phẩm (hữu hình hay vô hình) thỏa mãn nhu cầu khác nhau của con người cho đến nay vẫn là hoạt động chủ yếu, đóng vai trò nền tảng trong đời sống xã hội loài người. Đối với mỗi quốc gia, thành công trong lĩnh vực phát triển kinh tế luôn là cơ sở quan trọng để tạo dựng những thành tựu trong các lĩnh vực khác. Nói đến hoạt động kinh tế, người ta trước tiên thường nghĩ đến các hoạt động sản xuất. Đó là việc tổ chức, sử dụng theo một cách thức nào đó các nguồn lực (máy móc, thiết bị, nhà xưởng, lao động, nguyên vật liệu…) nhằm tạo ra những vật phẩm hay dịch vụ (các dòng lợi ích mà người ta thu được trong một thời kỳ, phát sinh từ các vật phẩm hữu hình hay từ các hoạt động của con người) thỏa mãn nhu cầu của con người.

Các vật phẩm hay dịch vụ với tư cách là kết quả đầu ra của quá trình sản xuất thường được các nhà kinh tế học gọi là hàng hóa. Các nguồn lực hay bất cứ cái gì dùng để sản xuất ra các hàng hóa được gọi là các yếu tố đầu vào (hay các yếu tố sản xuất). Ở thời nguyên thủy, khi sản xuất con người chủ yếu lợi dụng chính những yếu tố đầu vào sẵn có của tự nhiên. Càng phát triển, con người càng ngày càng tạo ra những đầu vào nhân tạo cho phép họ sản xuất ra các đầu ra với hiệu suất cao hơn.

Nếu sản xuất là quá trình biến đổi các đầu vào thành các đầu ra thích hợp với nhu cầu của con người (theo nghĩa này, sản xuất bao gồm 9 cả sự dịch chuyển các vật phẩm trong không gian và thời gian), thì tiêu dùng chính là mục đích của sản xuất. Xã hội chỉ sản xuất ra những hàng hóa mà nó có nhu cầu tiêu dùng. Quyết định tiêu dùng của các cá nhân có ảnh hưởng to lớn đến các quyết định sản xuất. Khi thực hiện quyết định của mình, những người tiêu dùng lựa chọn các hàng hóa theo một cách nào đó, phù hợp với sở thích, nguồn thu nhập của mình và giá cả hàng hóa.

Vì đối tượng lựa chọn của hành vi tiêu dùng là hàng hóa nên tiêu dùng cũng là một hoạt động kinh tế quan trọng. Trao đổi hàng hóa cũng là một hoạt động kinh tế cơ bản của các xã hội hiện đại. Thông qua trao đổi, các cá nhân khác nhau có thể nhận được những hàng hóa mà mình cần chứ không phải trực tiếp sản xuất ra tất cả các loại hàng hóa. Nhờ trao đổi, quá trình sản xuất xã hội trở nên có hiệu quả hơn.

Xã hội không chỉ sản xuất ra các hàng hóa mà còn phải phân phối chúng giữa các thành viên khác nhau. Việc phân phối các hàng hóa đầu ra tùy thuộc nhiều vào việc phân phối các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. Người nào nắm giữ được nhiều đầu vào hơn, người đó có nhiều khả năng chiếm giữ được phần lớn hơn trong số các đầu ra mà xã hội tạo ra. Cách thức phân phối thường gắn chặt với cách thức sản xuất.

Sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng là những khâu khác nhau, có quan hệ chặt chẽ với nhau của quá trình kinh tế. Sở dĩ chúng là những hoạt động kinh tế vì ở đây người ta luôn phải đương đầu với sự lựa chọn khi ra các quyết định. Khi chúng ta phải cân nhắc sản xuất nhiều lúa gạo hơn hay lắp ráp nhiều ô tô hơn, điều đó tự nó đã hàm ý rằng chúng ta không thể cùng một lúc có cả hai thứ nhiều hơn. Chúng ta đang đứng trước một sự đánh đổi: được cái này thì buộc phải hy sinh thứ khác.

Sự đánh đổi này khiến cho chúng ta phải lựa chọn để có thể đưa ra được những quyết định khôn ngoan, hợp lý hay nói cách khác, những quyết định có tính kinh tế. Lựa chọn – đó chính là thực chất của các quyết định kinh tế. Tại sao người ta thường phải lựa chọn khi ra các quyết định? Nguồn gốc của mọi vấn đề kinh tế nằm ở mâu thuẫn giữa một bên là nhu 10 cầu có tính vô hạn của con người với một bên là các nguồn lực có tính khan hiếm. Vấn đề kinh tế phát sinh chính là do sức ép của việc giải quyết mâu thuẫn này.

Trong cuộc sống, con người luôn có các nhu cầu cần thỏa mãn. Nhu cầu về thức ăn, quần áo, chỗ ở, phương tiện đi lại… dường như liên quan đến nhu cầu cơ bản, có tính sinh tồn của con người. Bên cạnh chúng, con người còn có nhiều nhu cầu “cao cấp” hơn: học tập, đi du lịch, thưởng thức âm nhạc, xem phim, xem hay chơi thể thao… Khi còn ở trạng thái nghèo đói, người ta có xu hướng coi các nhu cầu “cao cấp” trên là xa xỉ, và tập trung vào việc thỏa mãn các nhu cầu sinh tồn. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ, nhu cầu con người luôn luôn không có điểm dừng.

Một khi một nhu cầu được thỏa mãn, người ta lại nảy sinh những nhu cầu mới, cao hơn. Sự mở rộng và nâng cấp liên tục các nhu cầu nằm trong bản chất của con người. Để thỏa mãn các nhu cầu của mình, con người cần có các sản phẩm và dịch vụ. Nhưng các nguồn lực để sản xuất các hàng hóa này lại có tính khan hiếm.

Về cơ bản, các nguồn lực trong xã hội đều không phải là vô hạn, người ta không thể cung cấp chúng một cách miễn phí mà không rơi vào trạng thái số lượng nguồn lực được yêu cầu vượt quá số lượng cung cấp sẵn có. Không chỉ lao động, đất đai, vốn là khan hiếm, mà thời gian để người ta sản xuất và tiêu dùng cũng khan hiếm. Tính khan hiếm này không cho phép con người có thể sản xuất mọi hàng hóa, với bất kỳ số lượng nào mà nó mong muốn. Với số lượng nguồn lực có hạn, khi xã hội sản xuất quá nhiều lương thực, nó buộc phải hy sinh các sản phẩm khác.

Tính khan hiếm của nguồn lực khiến cho phần lớn các sản phẩm mà chúng ta thấy cũng mang tính khan hiếm. Người ta không thể có chúng mà không phải hy sinh hay từ bỏ một cái gì khác. Vì thế: Lựa chọn sản xuất cái gì, với số lượng bao nhiêu v.… để có thể thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của mình chính là bài toán kinh tế mà cho đến nay, loài người vẫn phải đương đầu. Điều đó làm nên các hoạt động kinh tế đa dạng của xã hội.

11 Đường giới hạn khả năng sản xuất Đường giới hạn khả năng sản xuất: Một trong những công cụ kinh tế đơn giản nhất có thể minh họa rõ ràng tính khan hiếm nguồn lực và sự lựa chọn kinh tế là đường giới hạn khả năng sản xuất. Đường giới hạn khả năng sản xuất của một nền kinh tế là đường mô tả các tổ hợp sản lượng hàng hóa tối đa mà nó có thể sản xuất ra được khi sử dụng toàn bộ các nguồn lực sẵn có. Để đơn giản hóa, chúng ta hãy tưởng tượng nền kinh tế chỉ sản xuất hai loại hàng hóa X và Y. Hai ngành sản xuất này sử dụng toàn bộ các yếu tố sản xuất sẵn có (bao gồm cả một trình độ công nghệ nhất định) của nền kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ