chương 1 1. Trình bày những vấn đề khái quát về kinh tế quốc tế? 2. Trình bày đặc điểm của nền kinh tế thế giới? 3. Trình bày cở sở hình thành và phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế? 4.
Phân tích các quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta đối với lĩnh vực kinh tế đối ngoại? 5. Trình bày được các điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế đối ngoại ở Việt Nam? 14 CHƯƠNG 2: THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Mã chương: MH15.02 Mục tiêu: - Trình bày được khái niệm, nội dung và chức năng của thương mại quốc tế; - Trình bày được một số quan điểm, lý thuyết về thương mại quốc tế; - Trình bày được chính sách thương mại quốc tế; Phân tích các công cụ của chính sách thương mại quốc tế; - Nêu lên được xu hướng thương mại quốc tế, liên hệ với thực tiễn tại Việt Nam. - Nghiêm túc tập trung nghiên cứu, Nội dung chính: 1. Khái niệm, nội dung và chức năng của thương mại quốc tế 1.
Khái niệm Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các chủ thể kinh tế có quốc tịch khác nhau thông hoạt động mua bán, lấy tiền tệ làm trung gian, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên. Nội dung - Xuất nhập khẩu hàng hoá hữu hình… - Xuất nhập khẩu hàng hoá vô hình… - Gia công quốc tế - Tái xuất khẩu và chuyển khẩu - Xuất khẩu tại chỗ 1. Chức năng của thương mại quốc tế - Biến đổi cơ cấu giá trị sử dụng của sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước thông qua thông qua việc xuất nhập khẩu, nhằm đạt tới cơ cấu có lợi cho nền kinh tế trong nước. - Giúp phần nâng cao hiệu quả nền kinh tế quốc dân.
Đặc điểm của thương mại quốc tế - Thương mại quốc tế có xu hướng tăng nhanh, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của nền sản xuất. - Tốc độ tăng trưởng của thương mại vô hình nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của thương mại hữu hình. - Cơ cấu hàng hóa trong thương mại quốc tế có sự thay đổi sâu sắc theo hướng: + Giảm đáng kể tỷ trọng nhóm hàng lương thực, thực phẩm và đồ uống + Giảm mạnh tỷ trọng của nhóm hàng nguyên liệu, tăng nhanh tỷ trọng của nhóm hàng dầu mỏ và khí đốt. + Giảm tỷ trọng hàng thô, tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm công nghiệp chế tạo.
15 + Giảm tỷ trọng những mặt hàng có hàm lượng lao động giản đơn, tăng nhanh những mặt hàng có hàm lượng lao động thành thạo, phức tạp, vốn lớn, công nghệ cao. - Hoạt dộng thương mại quốc tế diễn ra trên thị trường thế giới, có thể là thị trường toàn thế giới, thị trường khu vực… - Các bên tham gia có quốc tịch khác nhau, mục đích buôn bán của họ có thể là lợi nhuận, phi lợi nhuận, có thể là đa mục tiêu, - Đối tượng trong trao đổi thương mại quốc tế là hàng hoá vật chất và hàng hoá dịch vụ, - Phương tiện thanh toán thương mại quốc tế giữa người mua và người bán là đồng tiền có khả năng chuyển đổi, - Luật pháp áp dụng quốc tế có nhiều nguồn khác nhau. Một số lý thuyết về thương mại quốc tế 2. Quan điểm của phái trọng thương về mậu dịch quốc tế 2.
Đặc điểm kinh tế - xã hội, cơ sở hình thành các quan điểm của phái trọng thương Chủ nghĩa trọng thương phát triển ở châu Âu, mạnh mẽ nhất là ở Anh va Pháp từ giữa thế kỷ XV đến thế kỷ XVII và kết thúc thời hoàng kim của minh vào giữa thế kỷ XVIII. Đại biểu tiêu biểu của Pháp J.Bodin, Melon, Colbert… của Anh Thomax Mun, Jame Stewart… - Ra đời trong bối cảnh phương thứcc sản xuất phong kiến tan rã, phương thức tư bản chủ nghĩa mới ra đời. Các quan điểm của phái trọng thương - Về tiền tệ: Mỗi nước muốn đạt được sự thịnh vượng trong phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối lượng tiền tệ (biểu hiện bằng vàng, bạc, đá quý). - Về ngoại thương: Muốn gia tăng được khối lượng tiền tệ thì con đường chủ yếu là phải phát triển ngoại thương, tức là phát triển buôn bán với bên ngoài, chú trọng xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu.
- Về lợi nhuận: Lợi nhuận là do lưu thông tạo ra, là kết quả của sự trao đổi không ngang giá là hành vi lừa gạt, tước đoạt lẫn nhau giữa các quốc gia. - Về vai trò của Nhà nước: đánh giá cao vai trò của Nhà nước trong điều khiển nền kinh tế thông qua chính sách kinh tế. Những nội dung cơ bản của các quan điểm - Coi trọng xuất nhập khẩu: “ Một quốc gia chỉ có thể thủ lợi do ngoại thương nếu xuất khẩu vượt nhập khẩu” - Thực hiện độc quyền mậu dịch, tức là loại ngoại quốc ra khỏi một số vựng mậu dịch nào đó. - Vàng bạc được coi trọng quá mức: “ thà quốc gia có nhiều vàng bạc hơn là nhiều thương gia và hàng hoá”.
16 - Dân số là sức mạnh của cải quốc gia, chính phủ khuyến khích các cuộc hôn nhân, sinh đẻ để làm tăng dân số, nhưng chính điều này làm nhân công rẻ mạt. Như vậy, lý thuyết trọng thương về thương mại quốc tế có thể tóm tắt trong mấy điểm sau: + Đánh giá được vai trò của thương mại quốc tế, coi đó là nguồn quan trọng mang về kim khí quý cho đất nước. + Có sự can thiệp sâu của chính phủ vào các hoạt động kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực ngoại thương; lập hàng rào thuế quan, khuyếch trương xuất khẩu… + Coi việc buôn bán với nước ngoài không phải xuất phát từ lợi ích chung của hai phía mà chỉ thu vén lợi ích quốc gia mình. Lợi thế so sánh của David Ricardo Davi Ricardo (1772-1823), nhà duy vật, nhà kinh tế học người Anh, ông được C.Mác đánh giá “ đạt đỉnh cao nhất của kinh tế chính trị học tư sản cổ điển” Tác phẩm nổi tiếng của ông là “ Những nguyên lý kinh tế chính trị và thuế” xuất bản năm 1817.
Các giả thiết sử dụng khi nghiên cứu - Trên thế giới chỉ có hai quốc gia sản xuất ra hai loại hàng hoá, trong đó mỗi quốc gia có lợi thế so sánh tương đối về một mặt hàng. - Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và có thể di chuyển tự do trong nước nhưng không thể di chuyển lao động ra nước ngoài. - Công nghệ sản xuất của 2 nước không đổi - Chi phí sản xuất không đổi - Không có chi phí vận tải và thương mại giữa các nước hoàn toàn tự do. - Sở thích tiêu dùng ở cả hai quốc gia là như nhau.
Nội dung của học thuyết so sánh - Mọi nước có thể và rất có lợi khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế. Bởi vì phát triển ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước; chỉ nên chuyên môn hoá vào một số sản phẩm nhất định và xuất khẩu hàng hoá của mình để đổi lấy hàng hoá nhập khẩu từ các nước khác. - Những nước nào có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong việc sản xuất mọi sản phẩm thì vẫn có thể có lợi khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có lợi thế so sánh nhất định về một số mạt hàng, và một số kém lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng khác. - Lợi thế so sánh chỉ sự khác biệt về chi phí sản xuất tương đối (chi phí cơ hội) - Một quốc gia có lợi thế so sánh trong việc sản xuất ra một mặt hàng nào đó nếu nước đó có chi phí tương đối (chi phí cơ hội) sản xuất mặt hàng đó thấp hơn so với các nước khác.
Công thức xác định lợi thế so sánh của một quốc gia. 17 Giả sử hai quốc gia A, B cùng sản xuất ra hai mặt hàng X, Y. Quốc gia A được coi là có lợi thế so sánh trong việc sản xuất mặt hàng X nếu: CPSX ra một đơn vị HH X của nước A CPSX ra một đơn vị HH X của nước B < CPSX ra một đơn vị HH Y của nước B CPSX ra một đơn vị HH Y của nước A * Chú ý: Lợi thế so sánh là một khái niệm có tính tương đối, nghĩa là trong một thế giới gồm 2 quốc gia, khi đó xác định được một quốc gia có lợi thế so sánh về một mặt hàng nào đó thì có thể rút ra kết luận là quốc gia thứ hai có lợi thế so sánh về mặt hàng kia. Ví dụ: Giả sử có hai khu vực sản xuất hai loại sản phẩm là lượng thực và quần áo.
Chi phí sản xuất ở mỗi khu vực thể hiện qua bảng sau: Khu vực sản xuất Sản phẩm Mỹ Anh Lúa mỳ (kg/giờ) 6 1 Vải (m/giờ) 4 2 Ta có: 1/2<6/4 nên theo học thuyết lợi thế so sánh của Davi. Ricacdo thì Mỹ có lợi thế tương đối trong việc sản xuất lúa mỳ còn Anh thì lại có lợi thế tương đối sản xuất vải. Do đó, Mỹ chuyên môn hoá sản xuất lúa Mỳ còn Anh chuyên môn hoá sản xuất vải. Sau đó hai nước tiến hành trao đổi cho nhau dưới hình thức xuất nhập khẩu.
Hành vi này đem lại lợi ích cho cả hai bên tham gia. Thương mại sẽ làm tăng khả năng tiêu dùng, khả năng sản xuất thế giới. Phân tích lợi ích của mậu dịch Theo quy luật của lợi thế so sánh, cả hai quốc gia đều có lợi khi trao đổi với nhau, nhưng cái lợi đó biểu hiện như thế nào? Rõ ràng Mỹ không tiến hành mậu dịch với Anh khi đổi 6kg lúa mỳ lấy 4 mét vải hoặc ít hơn. Vì điều này ngay trong nước Mỹ có thể lấy được.
Cũng như vậy Anh cũng không tiến hành mậu dịch với Mỹ 2m vải lấy 1kg lúa mỳ hoặc ít hơn. Giả sử tỷ lệ trao đổi 6kg = 6m, Mỹ đổi 6kg với Anh được 6m như thế Mỹ được lợi 2m (hoặc tiết kiệm được 1/2 giờ lao động) Vì ở Mỹ chỉ đổi 6kg = 4m. Để nhận được từ Mỹ, Anh phải bỏ ra 6 giờ sản xuất lúa mỳ trong nước. Nhưng nếu bây giờ Anh không sản xuất lúa mỳ nữa mà giành thời gian đó để sản xuất lấy vải Anh sẽ có 12m vải, sau đó mang đổi đi 6m lấy 6kg phầm còn lại là 6m là phần lợi ích từ mậu dịch mà Anh có được.