Giáo trình Giáo dục: giáo dục thể chất võ thuật

Giáo trình giáo dục về giáo dục thể chất võ thuật, biên soạn theo chương trình đào tạo chuẩn, hệ thống hóa kiến thức từ cơ bản đến nâng cao.

Trường đại học

University

Chuyên ngành

Physical Education and Martial Arts

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Textbook
52
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và Bản chất của Giáo dục Thể chất Võ thuật

Giáo dục thể chất võ thuật là một loại hình giáo dục có tổ chức, có mục đích và có kế hoạch nhằm truyền thụ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vận động từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đây là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm và vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động phù hợp với học sinh và sinh viên theo các nguyên tắc sư phạm. Giáo dục thể chất nhằm trang bị kỹ năng vận động và tri thức chuyên môn về thể dục thể thao để phát triển tố chất thể lực và tăng cường sức khỏe. Bản chất của giáo dục thể chất võ thuật gắn liền với việc dạy học động tác, giáo dục các tố chất vận động của con người. Trong hệ thống giáo dục, giáo dục thể chất được liên kết chặt chẽ với trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động, tạo nên một nền tảng toàn diện cho phát triển nhân cách của học sinh.

1.1. Dạy học Động tác Nội dung Cơ bản

Dạy học động tác là nội dung cơ bản của giáo dươc thể chất, quá trình trang bị những kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết cho cuộc sống và tri thức chuyên môn. Quá trình này bao gồm các động tác đơn giản đến phức tạp, từ chuyển động cơ bản đến những kỹ thuật nâng cao trong võ thuật. Dạy học động tác và phát triển tố chất thể lực có liên quan chặt chẽ, làm tiền đề cho nhau nhưng không bao giờ đồng nhất.

1.2. Giáo dục các Tố chất Vận động

Thành phần thứ hai của giáo dục thể chất là tác động hợp lý đến sự phát triển tố chất vận động, đảm bảo phát triển các năng lực vận động như sức nhanh, sức mạnh, sức bền. Giáo dục các tố chất vận động không chỉ nâng cao khả năng vận động mà còn góp phần phát triển toàn diện nhân cách học sinh, tạo thói quen tập luyện lành mạnh.

II. Vai trò của Giáo dục Thể chất Võ thuật trong Trường học

Giáo dục thể chất võ thuật trong trường học đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền thể thao nước nhà. Công tác thể dục thể thao được xác định là bộ phận quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, ý chí và giáo dục nhân cách cho học sinh. Giáo dục thể chất trong trường học còn là môi trường giàu tiềm năng để phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao. Với vai trò như vậy, công tác giáo dục thể chất luôn nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và trách nhiệm của toàn xã hội. Ngành Giáo dục và ngành Thể dục thể thao đã phối hợp chặt chẽ để chỉ đạo và quản lý toàn diện, thúc đẩy phát triển mạnh mẽ.

2.1. Nâng cao Sức khỏe và Phát triển Thể lực

Tập luyện thể dục thể thao thường xuyên mang lại sức khỏe và tăng cường thể lực. Cơ thể con người chịu ảnh hưởng của vận động, các hệ cơ quan được cải tạo để thích nghi với hoạt động, tăng chuyển hóa chất và thúc đẩy phát triển mạnh mẽ. Đối với thanh thiếu niên, hoạt động thể dục thể thao không chỉ phát triển thể lực mà còn tạo sân chơi lành mạnh và bổ ích.

2.2. Giáo dục Đạo đức và Hình thành Nhân cách

Giáo dục thể chất được thực hiện nhằm trang bị kỹ năng vận động cơ bản, góp phần quan trọng vào giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh và hình thành nhân cách học sinh. Hoạt động này giúp hạn chế các hiện tượng tiêu cực và tệ nạn trong nhà trường và xã hội, tạo ra thế hệ trẻ có ý thức trách nhiệm cao.

III. Ảnh hưởng của Tập luyện đến Hệ Vận động

Hệ vận động của con người bao gồm bộ xương gồm 200 chiếc được nối với nhau bằng khớp xương và khoảng 600 bắp thịt. Xương có cấu trúc đặc biệt, rất chắn và nhẹ - xương đùi có thể chịu lực nén khoảng 1500kg. Tập luyện thể dục thể thao làm cho hệ cơ phát triển mạnh mẽ. Bình thường hệ cơ chiếm khoảng 35-40% trọng lượng cơ thể, nhưng những người rèn luyện tốt có hệ cơ phát triển mạnh, chiếm khoảng 50% trọng lượng. Hệ cơ phát triển càng tốt, cơ thể càng khỏe, sức co cơ càng mạnh. Lực co cơ phụ thuộc vào trạng thái tập trung hưng phấn của hệ thần kinh, lứa tuổi và giới tính. Sức mạnh cơ đạt đỉnh vào khoảng 20 tuổi.

3.1. Phát triển Cơ bắp và Sức mạnh Cơ

Nhờ hệ vận động, hệ cơ phát triển tốt cả về khối lượng, chất lượng và sức mạnh co cơ tăng lên. Cơ bắp phát triển không chỉ làm tăng kích thước mà còn nâng cao khả năng co cách, tạo nên sức mạnh vận động. Giáo dục thể chất võ thuật giúp kích thích sự phát triển cơ bắp một cách khoa học và hiệu quả.

3.2. Tăng cường Độ cứng của Xương

Xương phát triển nhờ vận động thường xuyên. Khi tập luyện, xương chịu tác động của lực vận động, từ đó mấu xương được kích thích phát triển, tăng cường mật độ xương và độ cứng. Điều này đặc biệt quan trọng đối với thanh thiếu niên trong giai đoạn phát triển.

IV. Đa dạng Nội dung và Hình thức Giáo dục Thể chất Võ thuật

Công tác giáo dục thể chất trong các trường học được thực hiện ngày càng đa dạng, phong phú với những nội dung và hình thức phù hợp với điều kiện thực tế của từng trường, từng địa phương. Giáo dục thể chất võ thuật không chỉ giới hạn ở những kỹ năng cơ bản mà còn bao gồm các võ thuật truyền thống và hiện đại. Việc thực hiện giáo dục thể chất theo hướng trang bị kiến thức về kỹ năng vận động cơ bản, giáo dục tố chất thể lực góp phần quan trọng vào giáo dục đạo đức và lối sống lành mạnh. Hoạt động thể dục thể thao rất quan trọng và bổ ích, không thể thiếu được trong cuộc sống, mang lại sức khỏe giúp chúng ta làm việc hiệu quả hơn.

4.1. Nội dung Đa dạng của Giáo dục Thể chất

Giáo dục thể chất võ thuật bao gồm nội dung đa dạng từ các động tác cơ bản đến các kỹ thuật nâng cao, từ những bài tập cá nhân đến hoạt động tập thể. Mỗi trường có thể lựa chọn nội dung phù hợp với điều kiện, trang thiết bị và đội ngũ giáo viên của mình.

4.2. Hình thức Giáo dục Phù hợp Địa phương

Các trường học được khuyến khích phát triển giáo dục thể chất theo hình thức phù hợp với điều kiện thực tế địa phương, tài nguyên sẵn có và nhu cầu của học sinh. Từ các giải đấu thể thao, câu lạc bộ võ thuật đến các hoạt động ngoại khóa, tất cả đều góp phần vào mục tiêu giáo dục toàn diện.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC THỂ CHẤT. 1) GDTC : Là một loại hình giáo dục nên nó là một quá trình giáo dục có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch để truyền thụ những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vận động. từ thế hệ này cho thế hệ khác. Điều đó có nghĩa là GDTC cũng như các loại hình giáo dục khác là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm và vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp với học sinh, sinh viên, với nguyên tắc sư phạm.

GDTC là một hình thức giáo dục nhằm trang bị kỹ năng, kỹ xảo vận động và những tri thức chuyên môn về thể dục thể thao (TDTT) để phát triển tố chất thể lực, tăng cường sức khỏe. Như vậy GDTC có thể chia thành hai mặt tương đối độc lập: Dạy học động tác và giáo dục các tố chất thể lực. Dạy học động tác là nội dung cơ bản của giáo dưỡng thể chất, đó là quá trình trang bị những kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản, cần thiết cho cuộc sống và những tri thức chuyên môn. Bản chất của thành phần thứ hai trong GDTC là tác động hợp lý đến sự phát triển tố chất vận động đảm bảo phát triển các năng lực vận động (sức nhanh, sức mạnh, sức bền.

Như vậy GDTC là một loại hoạt động giáo dục có nội dung đặc trưng là dạy học động tác và giáo dục các tố chất vận động của con người, việc dạy học động tác và phát triển các tố chất thể lực có liên quan chặt chẽ, làm tiền đề cho nhau, thậm chí có thể “chuyển” lẫn nhau. Nhưng chúng không bao giờ đồng nhất, giữa chúng có quan hệ khác biệt trong các giai đoạn phát triển thể chất và GDTC khác nhau.Trong hệ thống giáo dục, nội dung đặc trưng của GDTC được gắn liền với trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động. 2) T ủa v ập luy a TDTT đố vớ ơ : Công tác TDTT trường học có vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền thể thao nước nhà.TDTT trong trường học được xác định là bộ phận quan trọng trong việc nâng cao sức khoẻ và thể lực, bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức, ý chí, giáo dục nhân cách cho học sinh, sinh viên góp phần yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.TDTT trường học còn là môi trường giàu tiềm năng để phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao cho đất nước. Với vai trò và ý nghĩa như trên, công tác TDTT trong trường học luôn nhận được sự quan tâm của Đảng.

Nhà nước cũng như trách nhiệm của toàn xã hội. Đặc biệt, trong nhiều năm qua, ngành Giáo dục&Đào tạo và ngành TDTT đã có sự phối hợp chặt chẽ trong việc chỉ đạo, quản lý một cách toàn diện, góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ công tác TDTT nói chung và GDTC nói riêng. GDTC được thực hiện theo hướng trang bị những kiến thức về kỹ năng vận động cơ bản, giáo dục các tố chất thể lực, góp phần quan trọng vào việc giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh, hình thành nhân cách cho học sinh, hạn chế các hiện tượng tiêu cực và tệ nạn trong nhà trường và xã hội. Công tác giáo dục thể chất trong các trường học được thực hiện ngày càng đa dạng, phong phú với những nội dung, hình thức phù hợp với điều kiện thực tế của từng trường, từng địa phương.

trong trường học ở nước ta. Hoạt động TDTT rất quan trọng và bổ ích, không thể thiếu được trong cuộc sống của mỗi chúng ta. Bởi tập luyện TDTT thường xuyên sẽ mang lại sức khỏe, yếu tố quan trọng giúp chúng ta làm việc có hiệu quả hơn. Đặc biệt, đối với thanh thiếu niên hoạt động TDTT không chỉ mhằm phát triển thể lực mà còn tạo ra sân chơi lành mạnh, bổ ích.

Cơ thể con gười là một khối thống nhất cho nên nó chịu sự ảnh hưởng của việc vận động, nhất là hoạt động TDTT, các hệ cơ quan trong cơ thể được cải tạo để thích nghi với sự vận động, tăng chuyển hóa chất trong cơ thể, thúc đẩy cơ thể phát triển mạnh mẽ. Trong phạm vi có hạn, đối với hoạt động hô hấp, tuần hoàn, coi đây là yếu tố chính để nâng cao hoạt động của cơ thể khi rèn luyện TDTT. a) Ảnh hưởng của TDTT đối với hệ vận động: Bộ xương người gồm 200 chiếc xương hợp thành một khối thống nhất và được nối với nhau bằng những khớp xương. Xương có cấu trúc đặc biệt, nhất là ở những xương dài (xương đùi, xương chày, xương cánh tay…) nên rất chắn và nhẹ (xương đùi của người khi để thẳng đứng có thể chịu được một lực nén khoảng 1500kg, xương chày có thể chịu được khoảng 1600-1700kg) Ngoài ra, cơ thể người còn có khoảng gần 600 bắp thịt (cơ), các cơ bám vào xương và bọc lấy khung xương.

Con người có những cử động khác nhau, từ những động tác đơn giản đến phức tạp. Khi các cơ co vào hay duỗi ra, xương sẽ chuyển động quanh các khớp. Bình thường hệ cơ chiếm khoảng 35-40% trọng lượng cơ thể. Nhưng một số nhà thể thao, nhờ rèn luyện tốt, hệ cơ phát triển mạnh, tỷ trọng cơ cao, chiếm khoảng 50% trọng lượng cơ thể.

Hệ cơ phát triển càng tốt, thì cơ thể càng khỏe, cơ có khối lượng càng lớn sức co của nó càng mạnh. Trong cơ thể, lực co cơ phụ thuộc vào trạng thái tập trung hưng phấn của hệ thần kinh, vào lứa tuổi, vào giới tính (tuổi trưởng thành lực cơ mạnh nhất là ở 20 tuổi). Nhờ có hệ vận động, hệ cơ mới phát triển được tốt cả về khối lượng, chất lượng và sức mạnh co cơ tăng lên. Xương cũng phát triển nhờ vận động: mấu xương chỗ cơ bám to thêm, xương dày và chắc thêm (như ở vận động viên đẩy tạ sau mỗi năm tập luyện xương cổ tay dày thêm 2mm).

Sự hoạt động của hệ cơ ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể, đến các hệ cơ khác như: Hệ tiêu hóa, tuần hoàn, bài tiết, điều hòa thân nhiệt. Ăn ngon miệng hơn, ngủ yên giấc hơn, các trạng thái tinh thần như cảm giác dễ chịu, vui vẻ, đầu óc sáng suốt sẽ có được khi vận động điều đặn. Nhưng tất nhiên lao động và tập luyện TDTT cũng phải phù hợp với đặc điểm sức khỏe của mình.Tập luyện TDTT quá sức sẽ có hại cho cơ thể. b) Hệ tuần hoàn: Quả tim nặng khoảng 250-350g, có cường độ hoạt động rất cao (ngày đêm co bóp không ngừng).

Ở người bình thường tim đập khoảng 60-80 lần/phút. Mỗi lần co bóp tim bơm vào các động mạch khoảng 60 ml máu. Trong một ngày đêm khoảng 5.184 lít máu được lưu chuyển (60ml x 60 lần x 60 phút x 24 giờ = 5. Khi cơ thể vận động mạnh, tim phải tăng cường co bóp để cung cấp máu nhiều hơn vì vậy tim phải đập nhanh hơn và tăng khối lượng máu dồn đi sau mỗi lần co bóp.

Khi tim co bóp, một khối máu được dồn vào hệ thống động mạch gây ra một sức nén này gọi là huyết áp (áp lực của máu). Có hai trị số huyết áp: Số tối đa (max), số tối thiểu (min). Ở người khỏe mạnh bình thường, huyết áp dao động như sau: Huyết áp tối đa: Từ 100- 135 mmHg. Huyết áp tối thiểu từ 60- 90 mmHg Hệ thống mạch máu như một mạng lưới dày đặc, động mạch dẫn từ tim đi khắp cơ thể.

Lớn nhất là động mạch chủ với đường kính khoảng 30mm, dày 1,5mm.Tĩnh mạch dẫn máu từ ngoại biên, phổi trở về tim và hệ thống mao mạch rất nhỏ tiếp nối giữa hệ thống động và tĩnh mạch. Ở đây sự trao đổi giữa máu và các tổ chức, khí O2, chất dinh dưỡng cần thiết, những chất độc hại được đưa ra ngoài. Khi cơ thể ở trạng thái tĩnh, chỉ có khoảng 10% mao mạch làm việc, số còn lại nghỉ ngơi để tiết kiệm năng lượng cho cơ thể. Khi cơ vận động, các mao mạch dự trữ bắt đầu hoạt động, mở rộng ra và cung cấp nhiều máu cho các cơ.

Ở những người lao động và thường xuyên tập luyện TDTT, tim tăng cường khối lượng máu cung cấp cho hệ cơ bắp bằng cách tăng sức mạnh co tim (khối lượng máu mỗi lần co bóp cơ thể tăng gấp 3 lần: Từ 60 – 180mm) nhưng số nhịp đập ít hơn. Khi phải hoàn thành một khối lượng vận động tương đối lớn, tim của người không tập luyện phải co bóp nhiều mới đủ máu để cung cấp O2 và cách chất dinh dưỡng. Làm việc như vậy tim chóng mệt, hiệu quả lao động sẽ bị giảm nhanh chóng, dẫn đến thiếu O2 gây ra đau thắt ngực, chóng mặt. Khi yên tĩnh bình thường tim đẩy được 4 lít, khi lao động có thể lên đến 20 lít.

Tim có sức làm việc to lớn và có thể phát huy khả năng tiềm tàng nếu cơ thể được rèn luyện thường xuyên, đúng đắn. Kết quả và sự vận động sẽ rèn luyện hệ thống mạch máu, tăng mức chịu đựng của chúng, hạ thấp huyết áp và phòng ngừa những bệnh tim mạch. c) Hệ hô hấp: Phế quản được hình dung như một cái cây phát ra thành những càng lớn, cành nhỏ rồi tới nhánh nhỏ nhất đường kính từ 0,5-0,25mm. Những phế quản nhỏ này đi tới những túi phổi nhỏ hình chùm nho với màng rất mỏng và mạng lưới mạch máu nhỏ bọc.

Những túi phổi đó gọi là phế nang – diện tích của nó nếu trải rộng sẽ gấp 50 lần diện tích cơ thể người. Bề mặt tiếp xúc lớn vậy làm cho sự trao đổi chất giữa không khí và máu tốt hơn. Người khỏe bình thường thở 14 – 18 lần/phút, mỗi lần hít vào 400 – 500 ml không khí. Một đêm khoảng 11.000 lít không khí qua phổi.

Qua đó, ta thấy tầm quan trọng của việc thở không khí trong sạch, không có bụi, khói thuốc lá…và thở đúng cách tốt như thế nào. Thở là hiện tượng nửa tự động, nửa tự chủ (do ý muốn của ta). Vì vậy, khi ta ngủ tuy ý thức không còn nhưng ta vẫn thở đều. Thở có điều chỉnh nhanh chậm, mức độ nông sâu hoặc nhịn thở một thời gian.

Tập thở đúng sẽ có lợi cho sức khỏe, cần thở chậm và sâu. Nếu hít vào qua mũi (lưu không khí nhiều hơn, sạch hơn và được sưởi ấm). Mỗi lần hít vào khoảng 0,5 lít không khí phổi, nếu cố gắng hít sâu thì có thể thêm 1,5 lít khí nữa và sau đó thể ra bình thường, nếu cố gắng thở ra hết có thể đẩy ra khỏi phổi chừng 1,5 lít khí nữa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ