chương 1 Trong giáo trình, chương đầu tiên có tính chất khái quát giới thiệu những vấn đề chung về giá trị sống và kỹ năng sống. Phần đầu của chương đề cập đến những nội dung khái quát chung về giá trị sống như: Quan niệm về giá trị sống; phân loại các giá trị sống; nội dung các giá trị sống cơ bản. Phần thứ hai của chương đề cập đến những nội dung khái quát chung về kỹ năng sống như: Quan niệm về kỹ năng sống; phân loại các kỹ năng sống; nội dung các kỹ năng sống cơ bản. Khái quát về giá trị sống 1.
Quan niệm về giá trị sống 1. Giá trị Theo từ điển Tiếng Việt, giá trị là cái mà con người dùng làm cơ sở để xem xét một vật có lợi ích đến mức nào đối với con người; cái mà con người dựa vào dùng để xem xét một người đáng quý đến mức nào về mặt đạo đức, trí tuệ, tài năng; những quan niệm và thực tại về cái đẹp, sự thật, điều thiện của xã hội; tính chất quy ra được thành tiền của một vật trong quan hệ buôn bán, đổi chác; độ lớn của một đại lượng, một lượng biến thiên (Hoàng Phê, 2021) Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Giá trị là tính có nghĩa tích cực, đáng quý, có ích của các đối tượng với các chủ thể”. giá trị là những khách thể, những hiện tượng và những thuộc tính của chúng, cần thiết cho con người (lợi ích, hứng thú) của một xã hội hay một giai cấp nào đó cũng như một cá nhân riêng lẻ với tư cách là phương tiện thỏa mãn những nhu cầu và lợi ích của họ, đồng thời cũng là những tư tưởng và ý định với tư cách là chuẩn mực, mục đích hay lý tưởng. Tác giả Trần Trọng Thủy trong nghiên cứu về “Giá trị, định hướng giá trị và nhân cách” cũng xem giá trị là một hiện tượng xã hội điển hình, biểu thị các sự vật, hiện tượng, các thuộc tính và quan hệ của hiện thực, các tư tưởng, các chuẩn mực, mục đích và lý tưởng, các hiện tượng của tự nhiên và xã hội được con người tạo ra nhưng 1 đều phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội và sự phát triển của cá nhân con người (Trần Trọng Thuỷ, 1993) Từ đó có thể thấy giá trị có thể hiểu đó là cái đã làm cho một khách thể nào đó có ích, có nghĩa, đáng quý đối với chủ thể, được mọi người thừa nhận; hay nói cách khác giá trị là những điều có ý nghĩa, có ích, đáng quý, được mong đợi đối với xã hội, tập thể và cá nhân phản ánh trong hoạt động, trong mối quan hệ xã hội, có ảnh hưởng và chi phối đến nhận thức, tình cảm, hành vi của con người, tạo động lực thúc đẩy con người sống theo một xu hướng nhất định và làm căn cứ để đánh giá những sự vật, sự việc khác là có ích và đáng quý đối với bản thân.
Có rất nhiều cách phân chia các giá trị, ví dụ như: giá trị vật chất, giá trị tinh thần, giá trị riêng, giá trị chung, giá trị xã hội. Theo tác giả Muriel Pumphrey giá trị là quan niệm, hành vi mong muốn do cá nhân hoặc nhóm đưa ra. Theo Egan (1994 ) cho rằng, giá trị không chỉ là những quan niệm mà nó còn là hệ thống tiêu chí và ảnh hưởng tớiviệc ra quyết định của con người. Một số nhà khoa học nước ngoài cho rằng, giá trị là niềm tin của con người, những gì con người cho là đúng hoặc sai, hay quan trọng trong cuộc sống của họ.
Từ những quan điểm nêu trên có thể đưa ra khái niệm giá trị như sau: Giá trị là những gì con người cho là quan trọng, là có ý nghĩa đối với bản thân mình, có định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống của mình. Giá trị có thể là những chuẩn mực đạo đức,những quan điểm, thái độ, cảm xúc hoặc những hành động thực tiễn. Giá trị có thể là vật chất, có thể là giá trị tinh thần; giá trị cũng có thể thuộc các lĩnh vực khác nhau, từ kinh tế, văn hóa, đạo đức, giáo dục, nghệ thuật. Giá trị có những cấp độ biểu hiện khác nhau như giá trị của cá nhân, giá trị nhóm, giá trị cộng đồng, dân tộc, nhân loại.
Khi tìm hiểu về giá trị, một số thuật ngữ cần làm sáng tỏ thêm như: Hệ giá trị: Là một tổ hợp giá trị khác nhau được sắp xếp, hệ thống lại theo những nguyên tắc nhất định thành một tập hợp mang tính toàn vẹn, hệ thống, thực hiện các chức năng đặc thù trong việc đánh giá con người theo những phương thức vận hành nhất định của giá trị. Thang giá trị (thước đo giá trị): là một tổ hợp giá trị, một hệ thống giá trị được sắp xếp theo một trật tự ưu tiên nhất định. 2 Chuẩn mực giá trị trong hệ thống giá trị được sắp xếp theo một trật tự nhất định, một thứ tự ưu tiên. Có những giá trị giữ vị trí cốt lỗi, chuẩn mực chung cho nhiều người, chiếm vị trí ở bậc cao hoặc then chốt được coi là giá trị chuẩn.
Giá trị sống Giá trị sống là thuật ngữ xuất hiện nhiều trong các lĩnh vực nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn như Triết học, đạo đức học, xã hội học, tôn giáo dục, tâm lý học và giáo dục học… Khi tìm hiểu về giá trị sống, người ta thường đặt ra các vấn đề như: Ý nghĩa của cuộc sống là gì? Những gì làm cho cuộc sống trở nên có ý nghĩa? Làm thế nào con người có thể chung sống với nhau mà không xảy ra những xung đột? Con người có những quyền cơ bản nào? Điều gì làm nên phẩm giá của con người?. Việc tìm hiểu câu trả lời cho những câu hỏi trên giúp chúng ta có thể hiểu rõ hơn về giá trị sống. Theo nghĩa rộng giá trị sống là bất cứ cái gì được xem là tốt hay xấu; là điều mà một chủ thể nào đó quan tâm. Theo đó họ đều xem xét mọi sự vật hiện tượng như những cái tốt hay xấu, thật hay giả… Một số nhà giáo dục tiếp cận khái niệm giá trị sống theo nghĩa hẹp hơn khi cho rằng giá trị sống là quan niệm về cái đáng mong muốn ảnh hưởng tới hành vi lựa chọn.
Theo định nghĩa này, có sự phân biệt giữa cái được mong muốn và cái đáng mong muốn. Theo đó giá trị sống (hay còn gọi là giá trị cuộc sống hoặc giá trị của cuộc sống) là những điều mà một người cho là quan trọng, có ý nghĩa trong cuộc sống. Giá trị sống là cơ sở, động lực và là yếu tố quyết định hành vi, sự lựa chọn của mỗi người trong những tình huống khác nhau của cuộc sống. Thuật ngữ giá trị sống có thể quy chiếu vào những mối quan tâm của một cá nhân, vào sở thích, bổn phận, trách nhiệm, những đòi hỏi, nhu cầu…; định hướng giá trị và sự lựa chọn của một cá nhân.
Giữa giá trị sống và chuẩn mực xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Chuẩn mực chỉ những quy tắc ứng xử xã hội được chấp nhận và trong mỗi giai đoạn, mỗi xã hội sẽ có những chuẩn mực khác nhau phù hợp. Chuẩn mực đề ra những nguyên tắc ứng xử thích đáng trong những tình huống cụ thể. Với cách hiểu như thế này, chuẩn mực là sự áp dụng cụ thể các giá trị vào đời sống hàng ngày.
Phân loại giá trị sống Có rất nhiều cách tiếp cận giá trị sống khác nhau, với mỗi cách tiếp cận lại có những phân loại các giá trị sống riêng biệt: Các nhà xã hội học tiếp cận khái niệm giá trị là một trong những khái niệm cơ bản được sử dụng để mô tả mối quan hệ giữa các cá nhân, các nhóm, các cộng đồng xã hội trong một khung cảnh văn hóa xã hội cụ thể. Giá trị xã hội mang tính khách quan đối với hành động của cá nhân và gây áp lực lên cá nhân. Mỗi hành động của cá nhân, theo E. Durkheim, đều là kết quả của áp lực do các sự kiện xã hội mang lại.
Giá trị có thể biến đổi dưới tác động của các nhân tố xã hội như tổ chức xã hội, cấu trúc xã hội, kinh tế, chính trị xã hội. Với cách tiếp cận này giá trị sống được phân chia thành 2 loại giá trị cơ bản: (1) Giá trị xã hội – Là tất cả những gì mang lại nội dung và ý nghĩa cho các thành viên của nhóm xã hội đều là giá trị xã hội; (2) Giá trị cá nhân – Là tất cả những gì mang lại nội dung và ý nghĩa cho một cá nhân nào đó nhằm đáp ứng những nhu cầu của họ. Dựa vào những loại hoạt động cụ thể người ta chia giá trị thành các loại giá trị kinh tế, đạo đức, chính trị, xã hội, thẩm mỹ, v. Một số tác giả khác chia hệ thống giá trị ra thành ba loại giá trị: Thứ nhất là giá trị tinh thần: Đây là loại giá trị này tạo ra trung tâm đạo đức của mỗi con người, do đó giá trị tinh thần có các loại giá trị cụ thể như đạo đức tình cảm, lương tâm… Thứ hai là loại giá trị quan hệ: Đây là loại giá trị liên quan đến các mối quan hệ của con người trong xã hội, việc thiết lập và duy trì những quan hệ xã hội cơ bản.
Giá trị quan hệ gồm những loại giá trị cụ thể như hợp tác, hoà giải, đồng hoá. Thứ ba là nhóm giá trị mang tính thiết chế xã hội: Đây là loại giá trị liên quan đến việc thực hiện các thiết chế, văn hoá, các chuẩn mực xã hội. Nhóm giá trị này bao gồm những loại giá trị như: Giá trị kinh tế, giá trị chính trị, giá trị văn hoá, giá trị tôn giáo, giá trị gia đình,. Theo cách tiếp cận và và phân loại những giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam thì giá trị sống được xác định bao gồm những loại giá trị như: lòng yêu nước, đoàn kết chia sẻ, lao động cần cù, sáng tạo; lạc quan yêu đời; lòng yêu thương, quý trọng con người, sống có tình nghĩa, tôn sư trọng đạo… 4 Năm 1995, chương trình quốc tế chia sẻ giá trị làm cho thế giới tốt đẹp hơn được khởi xướng bởi Unesco.
Từ hội thảo này các nhà nghiên cứu đã đưa ra 12 giá trị cơ bản, đó là: Giá trị hòa bình; giá trị tôn trọng; giá trị yêu thương; giá trị khoan dung; giá trị trung thực; giá trị khiêm tốn; giá trị hợp tác; giá trị hạnh phúc; giá trị trách nhiệm; giá trị giản dị; giá trị tự do; giá trị đoàn kết.