Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIA ĐÌNH Thực tế chứng mỉnh: yếu tố con người, kinh tế, văn hoá, tình cảm, tâm lý, điều kiện vật chất và tinh thần có mối quan hệ vô cùng mật thiết, tác động lẫn nhau, ảnh hưởng và chỉ phối lẫn nhau, cùng tổn tại trong một khối thống. nhất hài hoà, tạo nên một cuộc sống gia đình ấm no, hạnh phúc. Dựa vào đó, các nhà nghiên cứu Đông, Tây, kim, cổ đã cố gắng phân thành các chức năng xã hội cơ bản của gia đình theo cách tiếp cận và quan niệm của mình. Tìm hiểu các tài liệu trong và ngoài nước viết về gia đình cho thấy, người ta chủ yếu nghiên cứu các chức năng xã hội cơ bản của gia đình, bao gồm: chức năng sinh sản để đuy trì nòi giống; chức năng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; chức năng xã hội hoá con người; chức năng kinh tế - sản xuất; chức năng thoả mãn như cầu tỉnh thần, tâm lý, tình cảm và chức năng chăm sóc, phụng dưỡng người già.
Chức năng sinh sản để duy trì nòi giống và tái sản xuất sức lao động xã hội Trong nền văn hóa nguyên thủy, chức năng sinh đẻ để tạo nên nòi giống, duy trì và phát triển nòi giống, là sản phẩm tự nhiên của việc thỏa mãn bản năng tính dục đã được © điều tiết về mặt xã hội bằng những quy tắc của việc chung sống vợ chồng và đời sống gia đình. Trong quá trình phát triển của lịch sử, các chức năng gia đình dù có những biến động, nhưng chức năng tái sản xuất ra con người để duy trì nòi giống và tái sản xuất sức lao động xã hội chiếm một vị trí đặc biệt, không một thiết chế nào có thể thay thế được. GIAO TRINH GIAO DUC GIA BINH Theo F. Engels (triết gia thế kỷ XIX, đồng sáng lập chủ BÚ TU T2 nghĩa Marx), chức năng sinh đẻ (sinh sản) là một trong hai nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của lịch sử loài.
Bàn về chức năng này, ông viết: “Theo quan điểm duy EU 20892H 0ật thì nhân tố quyết định trong lịch sử su cho đến cùng là sản xuất 0à tái sản xuất ra đời sống trực tiếp. Một mặt, là sản xuất TH U24 ra tử liệu, sinh hoạt, ra thức ăn, quân ho, nha ử oà những công EU cụ cân thiết để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác, là san xuất ra rea bản thân con người, là tiếp tục nồi giống”. Chức năng sinh sản của gia đình hiện nay nhận được sự quan tâm đặc biệt của các chuyên gia thuộc các lĩnh vực tri thức: Sư phạm học, Dân số học, Tâm lý học, Luật học, Xã hội học, Kinh tế học, Y học, v. Bởi vì số lượng và chất lượng dân số đối với sự phát triển mới của loài người là vô cùng quan trọng.
Sukhomlinski từng viết: “Có hàng chục, hàng trăm nganh nghé, cong viéc khac nhau, người xâu dựng đường sắt, người kia lam nha ở, người thì làm bánh mì, người thì chữa bệnh, người thì mau quân áo. Nhưng có một công iệc phổ biến nhất, phức tạp nhất mà cao quý nhật như nhau đối uới mọi gia đình, đông thời lại có tính đặc thà oà không lặp lại trong moi gia đình, đó là sự sáng igo ra con 1gười. Sự sáng tạo ra con người - đó là sự nỗ lực cao nhất của tất cả sức mạnh tỉnh thần của bạn; đó là sự khôn ngoan, tài nghệ, là nghệ thuật trong cuộc sống của bạn”. Xã hội truyền thống đặt lên hàng đầu trách nhiệm bảo tôn, duy trì nòi giống, duy trì dòng họ, “nỗi dõi tông đường”.
25 (hương 1: NHỮNG VẤN ĐỆ CHUNG VỀ GIA ĐÌNH Trong chế độ phong kiến, không có con được khép vào tội bật hiếu lớn nhất đối với cha mẹ, là một trong bảy nguyên. cớ cho phép người chồng được quyền ly đị. Do hạn chế của trình độ Y học đương thời chưa tìm được nguyên nhân của chứng vô sinh do phía vợ hay chồng, đương nhiên xã hội quy kết, đổ lỗi cho phụ nữ. Ở góc độ cá nhân, trách nhiệm làm cha, làm mẹ không chỉ liên quan đến ông bố và bà mẹ mà còn liên quan đến mọi thành viên của cùng gia đình và dong ho.
Thế hệ bậc trên có thể coi sự nối đõi tông đường: là nghĩa vụ tối cao của các cặp vợ chồng trước gia đình và dòng họ. Trong con mắt của những người bậc trên, khả năng sinh con đàn, cháu lũ của đôi vợ chồng trẻ là điều người. ta mong muốn nhiều hơn so với thế hệ trẻ. Thực tế không thể phủ nhận là trong cuộc sống hiện đại có không ít cặp vợ chồng không muốn sinh con, họ.
chọn lối sống không con cho đơn giản, nhẹ nhàng, đây là hiện tượng không bình thường của gia đình, nhưng nhìn chung có con vẫn là nhu cầu tự nhiên của hầu hết các cặp vợ chồng trên thế giới. Động cơ cá nhân trong việc thực hiện hành vi sinh đẻ của các cặp vợ chồng là những hy vọng, mong đợi của cha mẹ, những người muốn gửi gắm vào con cái của mình bao gồm: động cơ về kinh tế; động cơ bảo hiểm khi già; động cơ sự bền vững của hôn nhân; động cơ tự khẳng định mình; động cơ đạo đức tôn giáo và động cơ thừa kế (Lê Ngọc Văn, 2012). Bên cạnh đó, có nhiều cặp vợ chồng mong muốn có con nhưng lại rất khó khăn trong việc sinh con với nhiều lý do. Theo đánh giá của các nhà khảo sát Nga gần đây, có 10 - 15% 26 GIÁO TRÌNH GIÁO DỤC GIA ĐÌNH dân số trưởng thành vì lý do sức khỏe không có khả năng sinh con vì môi trường sinh thái không thuận lợi tác động đến họ, lối sống không lành mạnh, bệnh tật, đinh dưỡng kém, v.
Với sự tiến bộ của nền văn mỉnh xã hội, “công việc phổ biển nhất, phức tạp và cao quý nhất” của các gia đình ngày nay trở thành đối tượng của sự kiểm tra dưới hình thức điều chỉnh có ý thức việc sinh đẻ có kế hoạch, vì quy” mô dân số, cơ cấu dân số, tốc độ tăng trưởng dân số ảnh hưởng đến quy mô, tốc độ tăng trưởng, chất lượng nguồn lao động. Trong xã hội hiện nay, ở một số nước phương Đông như Trung Quốc, Việt Nam vẫn còn tồn tại những tư tưởng bảo thủ, lạc hậu: đẻ nhiều con để trông cậy lúc già, đẻ nhiều con để nối dõi tông đường, nhất là con trai do tư tưởng trọng nam, khinh nữ ăn sâu vào tiểm thức. Những tư tưởng này nhất thiết phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội, góp phần làm cho xã hội phát triển hợp lý hơn giữa sự gia. tăng dân số và phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá, giáo dục.
Một trong những vấn để có tính toàn cầu mà cả loài người đang hết sức lo lắng hiện nay, đó là sự giảm sút sinh đẻ ở các nước phát triển (như Pháp, Nga, Anh.) và gia tăng vô địch dân số ở các nước đang phát triển thuộc châu Á. Ấn Độ là quốc gia đứng đầu về số lượng trẻ ra đời, mỗi - năm bổ sung thêm cho Trái Đất 22,5 triệu trẻ em, đứng thứ hai là Trung Quốc - 18,4 triệu mặc dù ở đó tồn tại chủ trương trong nhiều năm dưới khẩu hiệu: “Mỗi gia đình - một con”. Tiếp đến phải kể đến Indonesia với 5,7 triệu trẻ ra đời mỗi năm, ở Nga chỉ có 1,2 triệu trẻ năm 1997. 27 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIA INH.
Cũng như các nước trong khu vực, hiện tại, ở nước ta chức năng sinh sản liên duan mật thiết đến sự phát triển dân số, mà trước hết là “nguy cơ bùng nổ dân số” do tổng số dân ở Việt Nam tăng lên chóng mặt, liên tục trong một thời gian dài. Con số sớm nhất mà các nhà khoa học tìm thấy được ở nước ta là dân số của năm 1900. Lúc đó, dân số Việt Nam khoảng 12 triệu người. Năm 1999, con số đã là 77 triệu người.
Tốc độ tăng ít nhất là 1,6% /năm. Trong vòng một thế kỷ qua, dân số Việt Nam đã hai lần tăng gấp đôi. Lần thứ nhất từ năm 1900 đến năm 1950, lần thứ hai là từ năm 1955 đến năm 1977. Ước tính cuối thế kỷ XXI, dân số Việt Nam sẽ tăng gấp 7 lần so với đầu thế kỷ.
Mức độ sinh sản tác động lớn đến sự ổn định kinh tế, xã hội của đất nước; phúc lợi của gia đình, sự bảo đảm chỗ ở; các chuẩn mực văn hoá - xã hội, truyền thống dân tộc; sức khoẻ, giáo dục của vợ chồng, quan hệ giữa họ với nhau; hoạt động nghề nghiệp và tính chất công việc của phụ nữ. Số lượng trẻ trong gia đình là vấn đề không chỉ có ý nghĩa giáo đục mà còn ý nghĩa kinh tế - xã hội. Đông con trở thành gánh nặng kinh tế - xã hội đối với đất nước, đối với xã hội và cá nhân: bao nhiêu để đủ trang trải cho ăn, mặc,. học hành của các thành viên, nghĩa là “một gánh nặng” đặt ra cho thế hệ trẻ.
Trong những năm gần đây, hầu hết các quốc gia trên thế giới từ nước phát triển đến các nước chậm | phát triển đều nhận thức được rằng bùng nổ dân số là hiểm hoạ đối với từng gia đình, cộng đồng dân tộc và toàn nhân loại. Dưới sự chỉ đạo của Liên hiệp quốc, các quốc gia đã 28 ` GIÁO TRÌNH GIÁO DỤC GIÁ ĐÌNH thành lập Uỷ ban Quốc gia dân số - Kế hoạch hoá gia đình và thống nhất các mục tiêu, giải pháp, chương trình hành động nhằm giảm sự gia tăng dân số. Thực hiện chỉ đạo của Liên hiệp quốc, nhận thấy nguy cơ và hiểm hoạ của bùng nổ dân số đối với quốc gia, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra Chiến lược dân số 2001-2010 với mục tiêu: “T/ực hiện gia đình ít con, khỏe mạnh 0à nâng cao chat lượng dân sổ; phát triển nguôn nhân lực chất lượng cao”. Xác định dân số là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước, Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Dân số năm 2003, ngày 09/01/2003, kèm theo Nghị định số 104/2003/NĐ-CP ngày 16/09/2003 của Chính Phủ: Quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số; pháp lệnh này được sửa đổi, bổ sung ngày 27/12/2008.
Nghị định 104/2003/NĐ-CP quy định trách nhiệm của cá nhân, các thành viên gia đình trong việc thực hiện chính sách dân số tại khoản 1 và 2 Điều 6 như sau: 1. Thực hiện mục tiêu chính sách dân số trên cơ sở chuẩn mực gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững.