Giáo trình Dung sai lắp ghép và Đo lường kỹ thuật - Trường CĐ Lào Cai

Giáo trình Dung sai lắp ghép & đo lường kỹ thuật cơ khí biên soạn theo chương trình đào tạo chuẩn, phù hợp sinh viên ngành cơ khí hiện nay

Trường đại học

Trường Cao Đẳng Lào Cai

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2017

108
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan Giáo trình Dung sai lắp ghép Đo lường kỹ thuật

Giáo trình Dung sai lắp ghép và Đo lường kỹ thuật là nền tảng cốt lõi trong ngành chế tạo cơ khí. Nội dung này cung cấp các nguyên tắc cơ bản để lựa chọn dung sai cho thông số hình học và các mối ghép, đảm bảo tính công nghệ và chất lượng sản phẩm. Trọng tâm của môn học là tính đổi lẫn chức năng, một yếu tố quyết định hiệu quả sản xuất hàng loạt và khả năng sửa chữa, thay thế. Tính đổi lẫn cho phép các chi tiết được sản xuất ở nhiều nơi khác nhau nhưng vẫn có thể lắp ráp hoàn hảo mà không cần sửa chữa, điều chỉnh. Điều này tạo điều kiện cho chuyên môn hóa sản xuất, áp dụng kỹ thuật tiên tiến và nâng cao năng suất lao động. Giáo trình này được xây dựng dựa trên các tiêu chuẩn TCVN và quốc tế (ISO), thống nhất các quy định về trị số dung sai, sai lệch giới hạn và các loại lắp ghép. Việc nắm vững kiến thức từ giáo trình giúp kỹ sư và công nhân kỹ thuật đọc hiểu bản vẽ kỹ thuật chính xác, giải quyết các bài tập dung sai lắp ghép và vận hành quy trình sản xuất một cách hiệu quả. Nội dung bao quát từ các khái niệm cơ bản như kích thước danh nghĩa, miền dung sai, đến các hệ thống lắp ghép phức tạp và kỹ thuật sử dụng các dụng cụ đo cơ khí chuyên dụng.

1.1. Khái niệm cốt lõi về tính đổi lẫn và dung sai kỹ thuật

Tính đổi lẫn chức năng là khả năng thay thế các chi tiết cùng loại cho nhau mà không cần lựa chọn hay sửa đổi, trong khi vẫn đảm bảo yêu cầu kỹ thuật. Yếu tố quyết định tính đổi lẫn chính là dung sai kỹ thuật. Dung sai là khoảng sai số cho phép của kích thước, được xác định bằng hiệu số giữa kích thước giới hạn lớn nhất và nhỏ nhất. Trị số dung sai càng nhỏ, độ chính xác của chi tiết càng cao. Có hai loại tính đổi lẫn: đổi lẫn hoàn toàn (áp dụng cho sản xuất hàng loạt các chi tiết tiêu chuẩn như bu lông, ổ lăn) và đổi lẫn không hoàn toàn (cho phép phạm vi dung sai lớn hơn, thường áp dụng trong nội bộ nhà máy). Theo tài liệu gốc, "dung sai là yếu tố quyết định đổi lẫn chức năng". Ý nghĩa của nó vô cùng to lớn về kinh tế và kỹ thuật, giúp đơn giản hóa quá trình lắp ráp, giảm thời gian sửa chữa và tạo điều kiện cho hợp tác sản xuất.

1.2. Phân loại kích thước và sai lệch giới hạn trong chế tạo

Trong đo lường kỹ thuật cơ khí, kích thước được phân thành ba loại chính. Kích thước danh nghĩa (DN, dN) là kích thước thiết kế ban đầu. Kích thước thực (Dth, dth) là kích thước đo được sau khi gia công. Kích thước giới hạn (Dmax, dmax, Dmin, dmin) là hai giá trị biên quy định phạm vi cho phép của kích thước thực. Để một chi tiết đạt yêu cầu, kích thước thực phải nằm trong khoảng giới hạn này (dmin ≤ dth ≤ dmax). Sai lệch giới hạn là hiệu số giữa kích thước giới hạn và kích thước danh nghĩa. Sai lệch giới hạn trên (ES, es) và sai lệch giới hạn dưới (EI, ei) xác định vị trí của miền dung sai so với đường không (kích thước danh nghĩa). Các giá trị này có thể là dương, âm hoặc bằng không, quyết định đặc tính của mối ghép.

II. Thách thức khi áp dụng dung sai và đo lường kỹ thuật cơ khí

Việc đảm bảo độ chính xác trong chế tạo cơ khí là một thách thức lớn. Các chi tiết sau khi gia công luôn tồn tại sai số so với thiết kế trên bản vẽ kỹ thuật. Những sai số này xuất phát từ nhiều nguyên nhân phức tạp trong quá trình sản xuất. Độ chính xác của máy móc, đồ gá, dụng cụ cắt, biến dạng do nhiệt và lực kẹp, cùng với tay nghề của người vận hành đều là các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp. Nếu không được kiểm soát chặt chẽ, các sai số này sẽ vượt ra ngoài miền dung sai cho phép, dẫn đến sản phẩm không đạt yêu cầu, không thể lắp lẫn và gây lãng phí. Ngoài sai số về kích thước, dung sai hình học (sai lệch về hình dạng và vị trí) và độ nhám bề mặt cũng là những thách thức quan trọng. Các yếu tố này ảnh hưởng đến độ bền, khả năng chống mài mòn và hiệu suất làm việc của chi tiết. Việc lựa chọn và kiểm soát dung sai một cách hợp lý là bài toán cân bằng giữa yêu cầu kỹ thuật và chi phí sản xuất, đòi hỏi kiến thức chuyên sâu về metrologytolerance.

2.1. Sai số gia công và các nguyên nhân ảnh hưởng độ chính xác

Sai số gia công là sự khác biệt giữa chi tiết thực tế và thiết kế lý tưởng. Các nguyên nhân chính gây ra sai số bao gồm: độ chính xác của máy công cụ (trục chính bị đảo, sống trượt không song song), độ mòn của dụng cụ cắt, độ cứng vững của hệ thống công nghệ (máy - đồ gá - dao - chi tiết). Bên cạnh đó, biến dạng do lực kẹp chi tiết, biến dạng nhiệt trong quá trình cắt, và rung động cũng góp phần làm sai lệch kích thước và hình dạng. Ngay cả phương pháp đo và dụng cụ đo cơ khí cũng có thể gây ra sai số nếu không được sử dụng đúng cách. Hiểu rõ các nguyên nhân này là bước đầu tiên để xây dựng các biện pháp phòng ngừa và hạn chế sai số, đảm bảo chi tiết nằm trong phạm vi dung sai kỹ thuật cho phép.

2.2. Dung sai hình học và độ nhám bề mặt Yếu tố then chốt

Dung sai hình học quy định sai lệch cho phép về hình dạng (độ thẳng, độ phẳng, độ tròn, độ trụ) và vị trí tương quan (độ song song, độ vuông góc, độ đồng tâm). Các sai lệch này, dù nhỏ, cũng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng của mối ghép. Tương tự, độ nhám bề mặt là những nhấp nhô tế vi trên bề mặt chi tiết sau gia công. Nó ảnh hưởng đến độ mài mòn, khả năng giữ dầu bôi trơn và độ bền mỏi. Các chỉ tiêu đánh giá độ nhám phổ biến là Ra (sai lệch trung bình số học) và Rz (chiều cao nhấp nhô theo 10 điểm). Việc quy định và kiểm soát cả dung sai kích thước, dung sai hình học và độ nhám là bắt buộc để đạt được chất lượng sản phẩm toàn diện.

III. Hướng dẫn hệ thống dung sai lắp ghép bề mặt trơn theo TCVN

Để giải quyết các thách thức về độ chính xác, một hệ thống lắp ghép tiêu chuẩn hóa đã được xây dựng và áp dụng rộng rãi. Tại Việt Nam, tiêu chuẩn TCVN 2244-77 và 2245-77 quy định một hệ thống dung sai và lắp ghép thống nhất, tương thích với tiêu chuẩn quốc tế ISO. Hệ thống này cung cấp một tập hợp các quy tắc, bảng tra và ký hiệu để các nhà thiết kế lựa chọn kiểu lắp ghép phù hợp cho từng ứng dụng cụ thể. Việc tiêu chuẩn hóa giúp đơn giản hóa thiết kế, giảm số lượng dao cắt và dụng cụ đo cần thiết, từ đó tối ưu hóa chi phí sản xuất. Hệ thống này được xây dựng dựa trên hai nguyên tắc cơ bản: hệ thống lỗ cơ bảnhệ thống trục cơ bản. Bằng cách phối hợp một chi tiết cơ bản (lỗ hoặc trục) với các chi tiết khác có miền dung sai khác nhau, người ta có thể tạo ra mọi loại lắp ghép mong muốn, từ lỏng, trung gian đến chặt. Nắm vững cách sử dụng các bảng tra và quy tắc trong tiêu chuẩn là kỹ năng thiết yếu đối với kỹ sư cơ khí.

3.1. Phân tích hệ thống lỗ cơ bản và hệ thống trục cơ bản

Hệ thống lỗ cơ bản là tập hợp các kiểu lắp ghép mà trong đó sai lệch giới hạn của lỗ được giữ không đổi. Lỗ cơ bản (ký hiệu H) có sai lệch giới hạn dưới EI = 0. Đặc tính của lắp ghép được tạo ra bằng cách thay đổi kích thước của trục. Ngược lại, hệ thống trục cơ bản là tập hợp các kiểu lắp mà trục được chọn làm chi tiết cơ sở. Trục cơ bản (ký hiệu h) có sai lệch giới hạn trên es = 0. Trong thực tế, hệ thống lỗ cơ bản được ưu tiên sử dụng nhiều hơn vì việc gia công lỗ với độ chính xác cao (bằng các dụng cụ như mũi doa, chuốt) thường khó và tốn kém hơn so với gia công trục. Việc sử dụng lỗ cơ bản giúp giảm thiểu số lượng dụng cụ định kích thước cần thiết.

3.2. Cách tra bảng và áp dụng các cấp chính xác theo TCVN

Tiêu chuẩn TCVN quy định 19 cấp chính xác, ký hiệu từ IT01, IT0, IT1 đến IT17, trong đó độ chính xác giảm dần. Mỗi cấp chính xác tương ứng với một giá trị dung sai tiêu chuẩn cho một khoảng kích thước danh nghĩa nhất định. Để xác định sai lệch giới hạn cho một chi tiết, cần kết hợp cấp chính xác với một sai lệch cơ bản (ký hiệu bằng chữ cái, ví dụ H, h, k, g). Ví dụ, ký hiệu Ø50H7 chỉ một chi tiết lỗ có kích thước danh nghĩa 50mm, thuộc hệ thống lỗ cơ bản (H) và có cấp chính xác 7. Bằng cách tra bảng trong tiêu chuẩn TCVN, người dùng có thể dễ dàng tìm thấy giá trị ES và EI tương ứng, từ đó xác định kích thước giới hạn và miền dung sai của chi tiết.

IV. Phương pháp đo lường và sử dụng các dụng cụ đo cơ khí chuẩn

Đo lường kỹ thuật (metrology) là khoa học về đo lường và ứng dụng của nó, đóng vai trò không thể thiếu trong việc kiểm soát chất lượng chế tạo cơ khí. Sau khi các giá trị dung sai kỹ thuật được quy định trên bản vẽ kỹ thuật, bước tiếp theo là kiểm tra xem chi tiết gia công có đáp ứng các yêu cầu đó hay không. Quá trình này đòi hỏi việc sử dụng thành thạo các dụng cụ đo cơ khí. Mỗi loại dụng cụ có cấu tạo, nguyên lý hoạt động và phạm vi ứng dụng khác nhau, từ các dụng cụ đo trực tiếp như thước cặp, panme đến các dụng cụ đo so sánh như đồng hồ so. Việc lựa chọn đúng dụng cụ và thực hiện phép đo đúng phương pháp là yếu tố quyết định độ chính xác của kết quả kiểm tra. Hơn nữa, việc bảo quản dụng cụ cẩn thận, tránh va đập và hiệu chuẩn định kỳ là bắt buộc để duy trì độ tin cậy của chúng, đảm bảo các chi tiết được đánh giá một cách khách quan và chính xác.

4.1. Nguyên lý hoạt động của thước cặp panme và đồng hồ so

Thước cặp là dụng cụ đo phổ biến nhất, hoạt động dựa trên nguyên lý du xích để đạt độ chính xác cao hơn thước thẳng (thường là 0.02mm hoặc 0.05mm). Nó có thể đo kích thước ngoài, kích thước trong và chiều sâu. Panme cho độ chính xác cao hơn thước cặp (thường là 0.01mm), hoạt động dựa trên nguyên lý vít-đai ốc. Nó chuyên dùng để đo các kích thước ngoài một cách chính xác. Đồng hồ so là dụng cụ đo so sánh, không hiển thị kích thước tuyệt đối mà hiển thị độ sai lệch so với một kích thước chuẩn. Nó rất hữu ích trong việc kiểm tra dung sai hình học như độ tròn, độ đảo, độ song song.

4.2. Kỹ thuật đo lường cơ khí và bảo quản dụng cụ đo đúng cách

Để có kết quả đo chính xác, cần tuân thủ các kỹ thuật cơ bản. Trước khi đo, phải làm sạch bề mặt chi tiết và bề mặt đo của dụng cụ. Khi đo, lực đo phải vừa phải, tránh làm biến dạng chi tiết hoặc dụng cụ. Đọc kết quả đo phải vuông góc với mặt thang đo để tránh sai số thị sai. Sau khi sử dụng, cần lau chùi dụng cụ sạch sẽ, bôi dầu chống gỉ và cất giữ trong hộp chuyên dụng ở nơi khô ráo. Không đặt các dụng cụ đo cơ khí chính xác chung với các dụng cụ gia công khác để tránh va đập. Việc hiệu chuẩn định kỳ theo khuyến nghị của nhà sản xuất là cần thiết để đảm bảo độ tin cậy của phép đo, một yêu cầu cơ bản trong hệ thống quản lý chất lượng.

V. Ứng dụng dung sai lắp ghép vào các mối ghép cơ khí phổ biến

Dung sai lắp ghép không chỉ là lý thuyết mà còn được ứng dụng trực tiếp vào việc thiết kế và chế tạo các mối ghép cơ khí. Đặc tính của một mối ghép—có độ hở (lắp lỏng), độ dôi (lắp chặt), hay trung gian—được quyết định bởi sự phân bố tương đối giữa miền dung sai của lỗ và trục. Việc lựa chọn đúng kiểu lắp ghép là cực kỳ quan trọng, ảnh hưởng đến khả năng làm việc, tuổi thọ và độ tin cậy của máy móc. Một mối ghép động như trục và bạc lót đòi hỏi phải có độ hở để chứa lớp dầu bôi trơn, trong khi một mối ghép cố định như bánh răng lắp trên trục có thể cần độ dôi để truyền mô-men xoắn mà không cần then. Việc giải các bài tập dung sai lắp ghép giúp sinh viên và kỹ sư rèn luyện kỹ năng tính toán các thông số giới hạn (Smax, Nmax) và lựa chọn kiểu lắp tiêu chuẩn từ tiêu chuẩn TCVN, chuẩn bị cho các bài toán thiết kế thực tế trong ngành chế tạo cơ khí.

5.1. Phân tích bài tập dung sai lắp ghép cho ổ lăn và then hoa

Ổ lăn là chi tiết đã được tiêu chuẩn hóa cao. Việc lắp ghép ổ lăn với trục và lỗ hộp là một bài toán điển hình. Vòng trong của ổ lăn được lắp với trục theo hệ thống lỗ cơ bản, trong khi vòng ngoài được lắp vào lỗ hộp theo hệ thống trục cơ bản. Kiểu lắp được lựa chọn dựa trên điều kiện chịu tải của vòng (tải chu kỳ, cục bộ hay dao động). Tương tự, mối ghép then và then hoa dùng để truyền mô-men xoắn. Việc lắp ghép được thực hiện theo chiều rộng (kích thước b). Các kiểu lắp thông dụng như N9/h9 hay D10/h9 được lựa chọn để đảm bảo then vừa có khả năng truyền lực, vừa có thể lắp ráp dễ dàng. Việc phân tích các ví dụ này giúp hiểu rõ ứng dụng thực tiễn của dung sai kỹ thuật.

5.2. Lựa chọn các kiểu lắp ghép tiêu chuẩn lỏng chặt trung gian

Có ba nhóm lắp ghép cơ khí chính. Lắp ghép có độ hở (lắp lỏng) luôn đảm bảo có khe hở giữa lỗ và trục (Smin > 0), phù hợp cho các mối ghép có chuyển động tương đối. Lắp ghép có độ dôi (lắp chặt) luôn đảm bảo có sự chèn ép giữa hai chi tiết (Nmin > 0), dùng cho các mối ghép cố định, truyền lực lớn. Lắp ghép trung gian là loại quá độ, tùy thuộc vào kích thước thực của chi tiết mà có thể tạo ra độ hở hoặc độ dôi. Nhóm này được dùng khi cần độ đồng tâm cao nhưng vẫn yêu cầu khả năng tháo lắp. Việc lựa chọn kiểu lắp phải dựa trên phân tích chức năng, điều kiện làm việc và yêu cầu công nghệ của mối ghép.

VI. Kết luận Tương lai ngành đo lường kỹ thuật và chế tạo cơ khí

Giáo trình Dung sai lắp ghép và Đo lường kỹ thuật cung cấp kiến thức nền tảng, là chìa khóa để đảm bảo chất lượng và tính kinh tế trong sản xuất hiện đại. Sự thống nhất dựa trên các tiêu chuẩn TCVN và ISO không chỉ thúc đẩy ngành chế tạo cơ khí trong nước mà còn tạo điều kiện cho hội nhập quốc tế, trao đổi hàng hóa và hợp tác sản xuất. Trong tương lai, các yêu cầu về độ chính xác sẽ ngày càng khắt khe hơn, đòi hỏi sự phát triển không ngừng của công nghệ metrology và các phương pháp gia công tiên tiến. Việc nắm vững các nguyên tắc cơ bản về tolerance và đo lường sẽ luôn là kỹ năng cốt lõi của người kỹ sư. Sự kết hợp giữa kiến thức lý thuyết vững chắc và khả năng ứng dụng công nghệ mới sẽ quyết định năng lực cạnh tranh của cá nhân và doanh nghiệp trong kỷ nguyên Công nghiệp 4.0, nơi mà độ chính xác và tự động hóa là yếu tố sống còn.

6.1. Tầm quan trọng của tiêu chuẩn TCVN trong hội nhập quốc tế

Việc ban hành và áp dụng hệ thống tiêu chuẩn TCVN về dung sai lắp ghép, hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế như ISO, có ý nghĩa chiến lược. Nó đảm bảo tính thống nhất về ngôn ngữ kỹ thuật trên bản vẽ kỹ thuật, cho phép các sản phẩm cơ khí Việt Nam có thể tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Khi một chi tiết được sản xuất tại Việt Nam theo đúng tiêu chuẩn, nó có thể được lắp ráp dễ dàng với các chi tiết khác sản xuất ở bất kỳ đâu trên thế giới. Điều này thúc đẩy thương mại, thu hút đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành chế tạo cơ khí quốc gia.

6.2. Xu hướng tự động hóa trong kiểm tra và đo lường Metrology

Tương lai của ngành đo lường kỹ thuật cơ khí gắn liền với tự động hóa và số hóa. Các phương pháp đo thủ công bằng thước cặp hay panme đang dần được bổ sung và thay thế bởi các hệ thống đo lường tiên tiến hơn như máy đo tọa độ (CMM), máy quét 3D laser, và hệ thống kiểm tra quang học. Những công nghệ này không chỉ cho kết quả nhanh và chính xác hơn mà còn giảm thiểu sai số do con người gây ra. Việc tích hợp các hệ thống đo lường tự động vào dây chuyền sản xuất (in-line metrology) cho phép kiểm soát chất lượng theo thời gian thực, giúp phát hiện sai lỗi sớm và tối ưu hóa quy trình, hướng tới một nền sản xuất thông minh và hiệu quả.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CÁC KHÁI NIỆM VỀ HỆ THỐNG DUNG SAI LẮP GHÉP 1. Các khái niệm cơ bản về dung sai lắp ghép. Tính đổi lẫn chức năng trong ngành cơ khí chế tạo 1. Bản chất của tính đổi lẫn chức năng.

Tính đổi lẫn chức năng của loạt chi tiết là khả năng thay thế cho nhau bằng các chi tiết khác cùng loại mà không cần phải lựa chọn hoặc sửa chữa gì mà vẫn đảm bảo yêu cầu kỹ thuật. Ví dụ: Đai ốc lắp với bu lông có chức năng bắt chặt, líp xe lắp với moay ơ có chức năng truyền chuyển động. Khi ta chế tạo hàng loạt đai ốc cùng loại, líp xe cùng loại, nếu lấy bất kỳ đai ốc nào, líp xe nào vừa chế tạo lắp vào bu lông, vào moay ơ đều thực hiện đúng chức năng của nó thì loại đai ốc, loại líp xe đó đã chế tạo đạt được tính đổi lẵn chức năng. Tính đổi lẫn chức năng được chia ra làm hai loại: + Đổi lẫn chức năng hoàn toàn Trong một loạt chi tiết cùng loại, nếu các chi tiết đều thay thế được cho nhau, thì loạt đó đạt được tính đổi lẫn chức năng hoàn toàn.

Đổi lẫn chức năng hoàn toàn đòi hỏi phải có độ chính xác cao, giá thành sản phẩm cao. Lắp lẫn hoàn toàn dùng chế tạo các chi tiết tiêu chuẩn như bu lông - đai ốc, bánh răng, ổ lăn., các chi tiết dự trữ, thay thế. + Đổi lẫn chức năng không hoàn toàn Nếu một số trong các chi tiết trong loạt không lắp lẫn cho nhau được hoặc khi lắp lẫn cho nhau cần phải gia công thêm mới lắp ghép được thì loạt chi tiết đó chỉ đạt được tính lắp lẫn không hoàn toàn. Đổi lẫn chức năng không hoàn toàn cho phép các chi tiết chế tạo với phạm vi dung sai lớn hơn, thường thực hiện đối với công việc lắp ráp trong nội bộ phân xưởng hoặc nhà máy.

Các chi tiết có tính đổi lẫn chức năng phải giống nhau về hình dạng về kích thước, hoặc kích thước chỉ được khác nhau trong một phạm vi cho phép nào đó, phạm vi cho phép đó gọi là dung sai. Như vậy dung sai là yếu tố quyết định đổi lẫn chức năng, tuỳ theo giá trị của dung sai mà chi tiết đạt được tính đổi lẫn chức năng hoàn toàn hay không hoàn toàn. Ý nghĩa của tính đổi lẫn chức năng Tính đổi lẫn chức năng trong chế tạo máy là điều kiện cơ bản và cần thiết của nền sản xuất tiên tiến. 6 Trong sản xuất hàng loạt, nếu không đảm bảo các nguyên tắc của tính đổi lẫn chức năng thì không thể sử dụng bình thường nhiều loại đồ dùng phương tiện trong cuộc sống của chúng ta.

Ví dụ : Lắp một bóng đèn điện vào đui đèn; vặn đai ốc vào một bulông bất kỳ có cùng kích cỡ kích thước, lắp ổ lăn có cùng số hiệu về kích thước vào trục và ổ trục nào đó v. Trong sản xuất, nhờ tính đổi lẫn chức năng của chi tiết quá trình lắp ráp được đơn giản thuận tiện. Trong sửa chữa, nếu thay thế một chi tiết bị hỏng bằng một chi tiết dự trữ cùng loại. Ví dụ: xéc măng, piston .thì máy có thể làm việc được ngay, giảm thời gian ngừng máy để sửa chữa, tận dụng được thời gian sản xuất của nó.

Về mặt công nghệ, nếu có các chi tiết được thiết kế và chế tạo đảm bảo tính đổi lẫn sẽ tạo điều kiện cho việc hợp tác sản xuất giữa các xí nghiệp, thực hiện chuyên môn hoá dễ dàng, tạo điều kiện để áp dụng kỹ thuật tiên tiến, tổ chức sản xuất hợp lý, nâng cao năng xuất và chất lượng, hạ giá thành sản phẩm. Như vậy tính đổi lẫn chức năng có ý nghĩa rất lớn về kinh tế, kỹ thuật. Kích thước, sai lệch giới hạn, dung sai 1. Kính thước: Kích thước là giá trị bằng số của các đại lượng đo chiều dài( đường kính, chiều dài, chiều rộng…) theo đơn vị đo được lựa chọn.

Trong công nghiệp chế tạo cơ khí đơn vị thường dùng là milimét( mm) và quy ước thống nhất trên bản vẽ kỹ thuật không cần ghi chữ (mm). Kích thước danh nghĩa Kích thước danh nghĩa là kích thước được xác định dựa vào chức năng của chi tiết, sau đó chọn cho đúng với trị số gần nhất của kích thước có trong bảng tiêu chuẩn. Ví dụ khi tính toán (về sức bền, độ cứng vững, độ ổn định…) người thiết kế xác định được kích thước của chi tiết là 35,785 mm; đối chiếu với bản tiêu chuẩn chọn kích thước là 36 mm. Kích thước 36 mm này là kích thước danh nghĩa của chi tiết.

Kích thước danh nghĩa được dùng để xác định các kích thước giới hạn và tính sai lệch. Ký hiệu kích thước danh nghĩa: + Đối với chi tiết trục là dN 7 + Đối với chi tiết lỗ là DN Hình 1.Biểu diễn kích thước lỗ và trục 1. Kích thước thực Là kích thước nhận được từ kết quả đo trực tiếp trên chi tiết. Sai số của kích thước thực phụ thuộc vào độ chính xác của dụng cụ đo.

Trong thực tế không phải lúc nào cũng xác định được kích thước một cách chính xác, như vậy nên còn cho phép quan niệm kích thước thực là kích thước được xác định bằng cách đo với sai số cho phép. Ký hiệu kích thước thực: + Đối với chi tiết trục là dth + Đối với chi tiết lỗ là Dth Khi gia công, không thể đạt được kích thước thực hoàn toàn đúng như kích thước danh nghĩa, sự sai lệch giữa kích thước thực và kích thước danh nghĩa phụ thuộc nhiều yếu tố: độ chính xác của máy, dao gia công, dụng cụ gá lắp, dụng cụ đo kiểm, trình độ tay nghề của người thợ v. Miền sai lệch cho phép của kích thước thực so với kích thước danh nghĩa phụ thuộc vào mức độ chính xác yêu cầu và tính chất lắp ghép của các chi tiết. Kích thước giới hạn Khi gia công bất kỳ một một kích thước của chi tiết nào đó, ta cần phải quy định một phạm vi cho phép của sai số chế tạo kích thước đó.

Phạm vi cho phép ấy được giới hạn bởi hai kích thước quy định gọi là kích thước giới hạn. Kích thước giới hạn là hai kích thước lớn nhất và nhỏ nhất mà kích thước thực của các chi tiết đạt yêu cầu nằm trong phạm vi đó. Phạm vi cho phép phải quy định sao cho các chi tiết đạt được tính lắp lẫn về phương diện kích thước. Có 2 kích thước giới hạn: 8 - Kích thước giới hạn lớn nhất: Là kích thước lớn nhất cho phép của chi tiết khi chế tạo mà kích thước thực phải nhỏ hơn hoặc bằng với nó Ký hiệu kích thước giới hạn lớn nhất : + Đối với chi tiết trục là dmax + Đối với chi tiết lỗ là Dmax - Kích thước giới hạn nhỏ nhất: Là kích thước nhỏ nhất cho phép của chi tiết khi chế tạo mà kích thước thực phải lớn hơn hoặc bằng với nó Ký hiệu kích thước giới hạn nhỏ nhất : + Đối với chi tiết trục là dmin + Đối với chi tiết lỗ là Dmin Hình 1.

Sơ đồ biểu diễn kích thước giới hạn và sai lệch giới hạn - Điều kiện để một chi tiết đạt yêu cầu khi gia công là : dmin  dth  dmax Dmin  Dth  Dmax 1. Sai lệch giới hạn 1. Khái niệm: Sai lệch giới hạn là sai lệch của các kích thước giới hạn so với kích thước danh nghĩa, là hiệu số giữa các kích thước giới hạn và kích thước danh nghĩa. Sai lệch giới hạn gồm: sai lệch giới hạn trên và sai lệch giới hạn dưới.

Sai lệch giới hạn trên Sai lệch giới hạn trên là hiệu đại số giữa kích thước giới hạn lớn nhất và kích thước danh nghĩa. Ký hiệu: + Đối với chi tiết trục là es + Đối với chi tiết lỗ là ES Công thức tính: es = dmax - dN ES = Dmax - DN 1. Sai lệch giới hạn dưới 9 Sai lệch giới hạn dưới là hiệu đại số giữa kích thước giới hạn nhỏ nhất và kích thước danh nghĩa. Ký hiệu: + Đối với chi tiết trục là ei + Đối với chi tiết lỗ là EI; Công thức tính: ei = dmin - dN EI = Dmin –DN Hình 1.

Sơ đồ biểu diễn sai lệch giới hạn * Chú ý: Tuỳ theo tính chất mối ghép yêu cầu mà sai lệch giới hạn có những giá trị khác nhau. - Sai lệch có giá trị dương (+) khi kích thước giới hạn lớn hơn kích thước danh nghĩa. - Sai lệch giới hạn bằng 0 khi kích thước giới hạn bằng kích thước danh nghĩa - Sai lệch giới hạn có giá trị âm (-) khi kích thước giới hạn nhỏ hơn kích thước danh nghĩa. * Cách ghi sai lệch giới hạn kích thước trên bản vẽ - Trên bản vẽ sai lệch giới hạn kích thước được ghi sau kích thước danh nghĩa.

- Đơn vị của kích thước danh nghĩa và sai lệch giới hạn đều là mm - Khổ chữ sai lệch giới hạn viết nhỏ hơn kích thước danh nghĩa - Sai lệch giới hạn trên được ghi ở phía trên: Ví dụ: 50+0,3 - Sai lệch giới hạn dưới được ghi ở phía dưới: Ví dụ: 50- 0,1 - Sai lệch bằng không thì không ghi hoặc ghi số 0.Ví dụ: 50- 0,1 - Sai lệch có trị số đối nhau thì ghi chung và phía trước có dấu cộng, trừ ( ), khổ chữ sai lệch giới hạn viết bằng khổ chữ kích thước danh nghĩa. Dung sai Khi gia công, kích thước thực được phép sai khác so với kích thước danh nghĩa trong phạm vi giữa hai kích thước giới hạn. Phạm vi sai cho phép đó của chi tiết gọi là 10 dung sai. Dung sai là khoảng sai số cho phép của kích thước, trị số dung sai bằng hiệu đại số giữa kích thước giới hạn lớn nhất và kích thước giới hạn nhỏ nhất hoặc bằng hiệu số giữa sai lệch trên và sai lệch dưới.

Ký hiệu: T( Tolerance) Với chi tiết trục: Td Với chi tiết lỗ : TD Công thức tính: + Với chi tiết trục: Td = dmax - dmin hay Td = es- ei + Với chi tiết lỗ: TD = Dmax - Dmin hay TD = ES -EI * Chú ý: Dung sai bao giờ cũng có giá trị dương bởi nó là chiều dài, chiều rộng của một khoảng có thực ( T > 0 ) - Quy định giá trị dung sai phải căn cứ vào quá trình làm việc hay chế độ lắp ghép của các cơ cấu mà có thể tìm ra được giá trị dung sai đó: + Trị số dung sai lớn - độ chính xác chi tiết thấp. + Trị số dung sai nhỏ - độ chính xác chi tiết cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ