CHUONG 4 MỘT SỐ CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ NHÂN CÁCH Chương 4 giới thiệu một số công cụ mang tính đại diện trong đánh giá nhân cách như bảng liệt kê hành vị, trắc nghiệm 16PF của Cattell, MMPI-2, PIY. Các công cụ được giới thiệu về mục đích sử dụng, cấu trúc của công cụ, nội dung của các công cụ, hướng dẫn thực hiện và xử lí kết quả. Một số “Báo cáo đánh giá” trên nghiệm thể thực được trình bày minh hoạ cho việc sử dụng công cụ, trong đó có các báo cáo đánh giá cá nhan (16PF Cattell, MMPI) và báo cáo đánh giá sàng lọc (PIY). Các công cụ được giới thiệu chủ yếu dừng ở mức độ được thích nghỉ về ngôn ngữ, chưa được chuẩn hoá trên nhóm mẫu người Việt.
Cần lưu ý vấn để này khi sử dụng cộng cụ. Yêu cầu đối với người học: ~ Nắm được mục đích, cấu trúc, cách sử dụng các công cụ. ~ Có khả năng thực hiện việc đánh giá bằng các-công cụ 16PF của Cattell, MMPI-2, viết báo cáo đánh giá cho các trường hợp. BẰNG LIỆT KÊ HÀNH VI 4.
Bang ligt ké hanh vi tré em T. Achenbach Các thang đo trong hệ thống đánh giá dựa trên thực chứng của Achenbach (Achenbach System of Empiricalli Based Assessment - ASEBA) bao gom: Bảng kiểm hành vi trẻ em (CBCL— The Child Behavior Checklist), Bảng kiểm hành vì thanh thiểu niên (YSR) đành cho trẻ em, cha mẹ và giáo viên đã được. dịch sang hơn 85 ngôn ngữ, được sử dụng rộng rãi trong đánh giá lâm sàng và nghiên cứu. CBCL là một trong các công cụ được sử dụng phổ biến nhất trong tâm lí học phát triển để đánh giá những vẫn để xúc cảm và hành vi kém thích ứng ở trẻ từ 2~ 3 tuổi và 4 đến 18 tuổi.
Bảng kiểm hành vi trẻ em (CBCL) được thiết kế dưới hình thức bảng hỏi tự khai cho phụ huynh giúp đánh giá các hành vi nội hoá (lo hãi, trầm cảm và thụ động.) và các hành vi ngoại hoá (xâm kích, tăng động, kém kiểm soát. Một số tiêu lĩnh vực được đo lường cụ thể như né tránh xã hội, than phiền về cơ thể, lo âu hay các hành vi phá huỷ, các vấn đễ xã hội, vấn đề chú ý. 65 Các kết quả điểm số của cá nhân trên từng item được so sánh với mẫu chuẩn tương ứng với độ tuổi, giới tính. Cũng có thể so sánh một cách hệ thống các kết quả thu được từ những nguồn khác nhau (cha mẹ, giáo viên, trẻ) để có được bức tranh sâu và rộng về nghiệm thể được đánh giá.
Trên cơ sở tích hợp các thông tỉn từ thang đo, quan sát trực tiếp và phỏng vấn lâm sàng, có thể hỗ trợ việc định hình trường hợp và đưa ra kế hoạch trị liệu cũng như giám sắt trị liệu cho từng trẻ. Băng sàng lọc hành vi học sinh HiIl Walker ya Herb Severson Nhu cầu có một tiếp cận tiên phong cho việc sàng lọc các vấn đề về hành vi trong nhà trường được nhiều nhà nghiên cứu và thực hành lâm sàng khẳng định. Cùng với xu hướng can thiệp sớm, việc sàng lọc, ngăn ngừa ngày càng được coi trọng hơn là can thiệp trị liệu. Ở các nước phát triển và tâm lí học trường học được quan tâm chú ý, việc phát triển các công cụ sàng lọc rất được quan tâm.
Đã từng có rất nhiều cố gắng đẻ tiến hành sàng lọc ở Mĩ, và các kết quả thì hỗn độn. Ở California, Nadine Lambert và Eli Bower đã phát triển nhiều phương pháp, bao sồm bản phân loại dành cho giáo viên và một “trò chơi trường học”, ở đó trẻ sẽ được kiếm tra, xác định dựa trên việc chúng được phân vai bởi những trẻ khác để đóng các vai anh hùng, kẻ xấu hoặc các dạng nhân vật khác trong trò chơi trường học tưởng tượng. HLM, Walker và H. Severson (1994) đã tổng kết một mô hình hệ thống vẻ xác định rối nhiễu hành vi mà có thê tóm tắt ngắn sơn lại— đó là một ví dụ về phép đo với độ chính xác thấp, nhưng năng suất cao.
Để đánh giá hành vi của học sinh, Walker va Severson da dé xuất quy trình sàng lọc 4 bước các hành vi cần chú ý (hành vi rối nhiễu) ở học sinh (SS8D ~ Systematic Screening for Behavior Disorders). Quy tinh 4 buée nay được thực hiện dựa trên sự quan sát thường xuyên hành vi của học sinh trên lớp học, được thực hiện bởi giáo viên hoặc người đánh giá. Để thực hiện được công việc này, bắt buộc người đánh giá phải tham gia lớp học với học sinh hoặc thông qua giáo viên để có được thông tin. Vi cụ đánh giá ở đây đơn giản có hình thức bảng kiểm mở, giáo viên có thẻ và làm được.
Quy trình cho sàng lọc hệ thống về rỗi nhiễu hành vì: Bước 1: Cung cấp cho giáo viên những ví dụ về các khái niệm hành vi nội hoá và ngoại hoá để họ có thể nhận biết. Bước 2: Cho giáo viên chọn 10 học sinh trong lớp phân loại cao nhất theo mỗi chiêu (học sinh không thể có tên ở cả 2 danh sách). 66 Buse 3: Cho gido vién xép loainhững học sinh này theo mỗi chiều. Bước 4: Cho giáo viên điển 2 xếp loại (Tình huống đáng chú ý (crilical) và Hành vi thích nghi/không thích nghỉ) cho 3 học sinh xếp hạng cao nhất trong mỗi danh sách (H.
Bảng Sàng lọc hệ thông đỗi với những rỗi nhiễu hành vi — SSBD (sàng lọc hành vì ngoại hiện) HiII Walker và Herb Severson— Viện Nghiên cứu Oregon “Tên giáo viên: ¡ lớp: ¡ ngay:. " Bước 1: Nhận điện những học sinh có vẫn đề về hành vi biểu hiện ra bên ngoài — hanh vi ngoai hién (Externalizing Behavior Problems). Những vấn đề hành vi ngoại hiện là tất cả những hành vi có vấn đề mà học sinh thực hiện hướng ra môi trường xã hội bên ngoài. Những vấn đẻ về hành vi ngoại hiện thường bao gồm sự thái quá về mặt hành vi và được các giáo viên cho.
là không phù hợp như gây hắn, không tuân thủ quy tắc, phá quấy. Hành vi có vấn đề Hành vi không có vấn đề Ép buộc học sinh khác. Hợp tác, chia sẻ. Chống đối lại giáo viên.
“Thực hiện công việc được giao. Không tuân thủ theo những chỉ dẫn của giáo viên. | Nghe lời giáo viên. Tương tác với bạn bè theo cách Guage thức phù hợp.
Hiểu động thái quá. Chú tâm vào nhiệm vụ. Tuân thủ quy tắc. 'Không tuân thủ các quy định của nhà trường.
Bước 2: Thực hiện theo đối — Bảng theo dõi cá nhân 'Hành vi thể hiện rõ nhất của học sinh 'Tên học sinh: 6T Bước 3: Xếp loại theo hành vì ngoại hoá. Căn cứ vào xếp loại từng cá nhân. Giáo viên/người theo dõi sắp xếp theo thứ nhlưu ý. tự các học sicần Biểu hiện nhiều nhất “Tên học sinh | oe feo | wr] Biểu hiện ít nhất 6 Bước 4: Cho giáo viên điền 2 xếp loại (Tinh huống đáng chú ý (critical) và Hành vi thích nghi/không thích nghỉ) cho 3 học sinh xếp hạng cao nhất trong mỗi danh sách.
Để chuyên viên tâm lí học đường có kế hoạch can thiệp và tiếp cận. Bảng Sàng lọc hệ thông đối với những rỗi nhiễu hành vi ~ SSBD (Sang loc hành vi nội hoá) Tén giáo viên:. Nhận điện những học sinh có vấn đề về hành vi nội hoá (invermatizing Behavior Problems) Những vấn để hành vi nội hoá là tất cả những vấn đề về hành vi mà học sinh hướng vào bản thân, liên quan đến những khiếm khuyết về tương tác xã hội (né tránh, cách li). Hành vi có vấn đề Hanh vi không có vấn đề Mức độ hoạt động thấp hoặc hạn chế.
chà động khởi xướng các tương tác với bạn. Không nói chuyện với trẻ khác. Giao tiếp với trẻ khác bình thường. 'Xấu hỗ, rụt rè và/hoặc không đứt khoát.
| Chơi với người khác bình thường. 'Thể hiện các hành vi xã hội tích cực với Lãng tránh các tình huống xã hội. người khác. Hành động một cách lo lắng sợ sệt.
Giải quyết các mâu thuẫn phù hợp. Khôn g hưởn g ứng với các hoạt động do. gia cùng sneha khác. người igười khác Khi xướng, "Tham 68 Bước 2: Bảng theo dõi cá nhân — Theo dõi 10 cá nhân Hành vi thể hiện rõ nhất của học sinh 'Tên học sinh: Bước 3: Xếp loại theo hành vi nội hoá Căn cử vào xếp loại từng cá nhân.
Giáo viên/người theo dõi sắp xếp theo thứ tự các học sinh cần lưu ý. Biểu hiện nhiều nhất 'Tên học sinh ||[ta | Biểu hiện ít nhất 6 Bước 4: Cho giáo viên điền 2 xếp loại (Tình huống đáng chứ ý (critical) và Hành vi thích nghi/không thích nghỉ) cho 3 học sinh xếp hạng cao nhất trong mỗi danh sách. Để chuyên viên tâm 1í học đường có kế hoạch can thiệp và tiếp cận. Trên cơ sở danh sách học sinh đã được sàng lọc theo 2 nhóm hành vi nội hoá và hành vi ngoại hoá, người đánh giá có thể sử dụng các công cụ khác nhằm làm rõ nguyên nhân, xu hướng để từ đó có các tác động can thiệp phù hợp.
TRAC NGHIEM 16PF CUA R. Giới thiệu Trắc nghiệm 16 nhân tổ nhân cách của R. Catell ~16PF được thiết kế vào những năm 1940, đến nay có nhiều phiên bản chỉnh sửa khác nhau. Ban đầu 16PF được thiết kế để đo nhân cách bình thường, nhằm phân loại, trắc nhận điện nhân cách.
Hiện nay, trắc nghiệm này được coi là một trong hai nghiệm nhãn cách khách quan phổ biến và được dùng nhiều nhất (Samuel Karson va Jerry W. 69 Trắc nghiệm được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau: dùng cho tham vấn (hôn nhân, nghề nghiệp), dùng cho tuyển dụng nhân sự các nghẻ khác nhau, dùng cho nghiên cứu và đánh giá lâm sàng. Trắc nghiệm được xây dựng trên cơ sở lí thuyết phân tích nhân tố về nhân cách. Theo đó, nhân cách được tạo bởi các nét (traits) hay các nhân tố (factor), trong đó có các nhân tố nguồn và các nhân tố bề mặt.
Sử dụng phương pháp phân tích nhân tổ, các nhà nghiên cứu đã rút gọn được các nét và quy về các nhân tổ cơ bản. Catll là một trong những người đầu tiên sử dụng phương pháp phân tích nhân tổ (factor analisis) để rút lại còn 16 nhân tổ. 16 nhân tố này được coi là các chiều kích đẩy đủ của một nhân cách. Về nguyên tắc, có thể sử dụng 16 nhân tổ này như một khung chung để nhận diện, phân loại các nhân cách, vì mỗi nhân cách đều có một điểm xác định nằm trên một phân bố của một chiều (dimension — nhân tố ~ factor) trong nhân cách.