Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về dân số Mục tiêu: - Kiến thức: + Trình bày được các khái niệm dân số, quy mô, cơ cấu và phân bố dân số; 6 + Nêu được chất lượng dân số và các yếu tố ảnh hưởng; - Kỹ năng: Xác định được tầm quan trọng của dân số đối với phát triển xã hội. - Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Rèn luyện được tính tích cực trong học tập, có thái độ tuyên truyền sâu rộng trong xã hội. Nội dung chính: 1. Khái niệm chung về dân số 1.
Khái niệm Dân số là dân cư được xem xét, nghiên cứu ở góc độ: quy mô và cơ cấu. Nội hàm của khái niệm Dân cư không chỉ bao gồm số người, cơ cấu theo độ tuổi và giới tính mà nó còn bao gồm cả các vấn đề kinh tế, văn hoá, sức khoẻ, ngôn ngữ. tức là nó rộng hơn rất nhiều so với nội hàm của khái niệm Dân số. Dân số học được hiểu theo nghĩa hẹp là chỉ nghiên cứu quy mô, cơ cấu và biến động dân số.
Dân số đang là đối tượng quản lý của Nhà nước. Tình hình dân số thế giới và Việt Nam 1. Tình hình dân số thế giới Qui mô dân số Nếu đầu công nguyên dân số thế giới chưa đầy 1/3 tỷ người thì đến năm 2000 dân số thế giới đã đạt 6,198 tỷ người, năm 2009 dân số thế giới đã đạt 6,810 tỷ người Quá trình phát triển dân số thế giới biểu hiện ở bảng sau: Bảng 1. Số lượng dân số thế giới qua các năm Năm Dân số (triệu) Diễn giải Đầu CN* 300 Sau hàng triệu năm số dân mới đạt tỷ người đầu tiên 1700 600 1800 900 1820 1000 1900 1600 1930 2000 Sau 110 năm đạt tỷ thứ hai 1955 2325 1960 3037 Sau 30 năm đạt tỷ thứ ba 1975 4067 Sau 25 năm đạt tỷ thứ tư 1987 5000 Sau 12 năm đạt tỷ thứ năm 2000 6198 7 2008** 6705 2009** 6810 Nguồn: Dân số thế giới.
Nhà xuất bản Thống kê Tài chính, Mockba, 1988, và * Đầu CN: Population Reference Bureau estimates ( Theo www.org) ** 2008, 2009 World Population Data Sheet 2008, 2009 of Population Reference Bureau of United States. Nhìn vào bảng trên ta thấy: Để đạt tỷ người thứ nhất phải mất hàng triệu năm. Nhưng để đạt tiếp các tỷ người sau đó thời gian giảm dần. Đặc biệt năm 1900 trở lại đây, qui mô dân số tăng lên rất nhanh.
Chỉ sau 90 năm (1900 đến 1990) dân số tăng từ 1,6 tỷ lên 5,3 tỷ người; tăng thêm 3,7 tỷ, bình quân mỗi năm tăng thêm 40 triệu người. Từ 1960 - 1990 tăng 2,3 tỷ, bình quân mỗi năm tăng 76 triệu. Theo dự báo của Liên hiệp quốc, đến năm 2000 dân số thế giới vào khoảng 6,2 tỷ người, mỗi năm tăng thêm gần 100 triệu người. Và thực tế đến năm 2000 thế giới đã có 6.198 triệu người, năm 2009 thế giới đã có 6,810 tỷ người, tăng hơn so với 2008 là 105 triệu người.
Dự báo giữa năm 2011 dân số thế giới sẽ đạt 7 tỷ người. Tốc độ tăng dân số Nếu như trước đây trong xã hội nguyên thuỷ, hàng trăm năm dân số không tăng hoặc chỉ tăng một vài phần trăm thì từ thế kỷ 17 đến nay tốc độ tăng ngày càng cao, mặc dù từ cuối thế kỷ XX đến nay có giảm đi.2: Tốc độ tăng dân số thế giới (%) Thời kỳ 1750- 1985- 1990- 1975- 1985- 2002 2009* Khu vực 1800 1990 1995 1980 1990 Toàn thế giới 0.36 1,2 Trong đó: - Châu Phi 0.3 1,2 kể LX) - Mỹ la tinh 0.5 Nguồn xác định từ cuốn Dân số thế giới, Nxb Tài chính thống kê Mackba, 1988 và các biểu đồ dân số thế giới của LHQ. *2009: World Population Data Sheet 2009 of Population Reference Bureau of United States. Nhìn vào bảng trên ta thấy mức độ gia tăng dân số cao nhất là ở Châu Phi.
Cuối thế kỷ XX, trên toàn thế giới, tốc độ tăng dân số có giảm, nhưng ở Châu Phi vẫn tiếp tục tăng. Châu Âu là nơi có tốc độ thấp nhất. Do tốc độ tăng dân số giữa các châu lục, giữa các nước khác nhau nên cán cân dân số cũng thay đổi khác nhau. Nếu năm 1990 các nước đang phát triển chiếm 2/3 dân số thế giới, thì đến năm 1980 đã lên tới gần 3/4 và đến năm 2009 chiếm 82% (hơn 4/5) dân số thế giới.
Phân bố dân cư thế giới Có thể nói dân cư thế giới hầu hết tập trung ở hai châu Á và Phi. Quy mô và tỷ lệ của nó ngày càng tăng. Có thể nhìn thấy điều đó ở bảng sau: Bảng 1.3: Phân bố dân cư ở các châu lục Các châu lục Tỷ lệ so với dân số thế giới (%) 1800 1900 2000 2050 Thế giới 100,0 100,0 100,0 100,0 Châu Phi 10,9 8,1 13,4 21,7 Nam Mỹ 0,7 5,0 5,2 4,8 Châu Á 64,9 57,4 60,3 57,3 Châu Âu 20,8 24,7 11,9 27,2 Châu Đại dương 0,2 0,4 0,5 0,5 Mỹ La tin và vùng Caribe 2,5 4,5 8,5 8,4 Nguồn: United Nations Population Division, Briefing Packet, 1998 Revision of World Population Prospects; and World Population Prospects, The 2006 Revision.4: Phân bố dân cư ở các châu lục năm 2009 9 Dân số Vùng Tỷ lệ % so với dân số thế giới (triệu người) Thế giới 6810 100,0 Châu Phi 999 14,7 Châu Mỹ 920 13,5 Châu Á 4.117 60,5 Châu Âu 738 10,8 Châu Đại Dương 36 0,5 Nguồn: World Population Data Sheet 2009 of Population Reference Bureau of United States. Đến năm 2009 dân số thế giới vẫn tập trung chủ yếu ở châu Á và châu Phi (châu Á chiếm 60,5 % và châu Phi chiếm 14,7 %) Do qui mô, tốc độ và việc phân bố dân cư thế giới như vậy nên người nghèo ngày càng nhiều, tỷ lệ số người này so với tổng dân số thế giới ngày càng tăng và dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực.
Tình hình dân số Việt Nam Thời Hùng Vương dựng nước, dân số Việt Nam mới chỉ có khoảng 1 triệu người. Đến đầu công nguyên chưa đầy 2 triệu người và hiện nay đã là 85.573 người (Tổng điều tra 1/4/2009) đứng hàng thứ 13 trên thế giới về qui mô dân số. Đặc biệt trong vòng nửa thế kỷ, từ 1945 đến l995 dân số đã tăng từ 23 triệu lên 74 triệu (tăng hơn 3,2 lần).5: Quy mô và tốc độ gia tăng dân số Việt Nam từ 1945 đến 2009 Năm Dân số (triệu người) Tốc độ tăng dân số (%) 1945 23 0.0 10 2009* 85, 789 1,23 Nguồn: Số liệu thông kê hàng năm của RIVCTK *Kết quả TĐT dân số 2009: TCTK Dân số nước ta đông, nhưng phân bố không đồng đều giữa các vùng trong nước. Đồng bằng mật độ dân số quá cao, số người tăng thêm hàng năm khá lớn, nhưng khả năng mở rộng sản xuất lại có hạn.
Trong khi đó miền núi đất đai khá rộng, có ưu thế phát triển cây công nghiệp, chăn nuôi, nghề rừng, nhưng mật độ dân cư lại thưa thớt, thiếu lao động. Chẳng hạn, đến năm 1989 Tây Nguyên chiếm 17% diện tích nhưng chỉ chiếm 2,8% dân số, trong khi đó đồng bằng Sông Hồng chỉ chiếm có 5,2% diện tích nhưng chiếm 21,1% dân số. Bên cạnh đó, một số tỉnh ở Vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ có quy mô dân số không tăng thậm chí giảm chút ít sau 10 năm, do số dân tăng tự nhiên không thể bù đắp được số người chuyển đi làm ăn, sinh sống ở các tỉnh, thành phố khác như: Hà Nam, Nam Định, Thanh Hoá, Hà Tĩnh. Theo báo cáo sơ bộ kết quả TĐTDS năm 2009 của Tổng cục thống kê: Quy mô dân số nước ta là 85.573 người được phân bố trên sáu vùng kinh tế - xã hội của đất nước.
Vùng đông dân nhất là Đồng bằng sông Hồng (19.944 người), tiếp đến là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (18.485 người) và Đồng bằng sông Cửu Long (17. Vùng có số dân ít nhất là Tây Nguyên, gồm 5 tỉnh với dân số là 5. Số liệu cho thấy, dân số Việt Nam phân bố không đều và có sự khác biệt lớn theo vùng. Hai vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, là châu thổ của hai sông lớn, nơi có đất đai màu mỡ và điều kiện canh tác nông nghiệp thuận lợi, có 43% dân số của cả nước sinh sống.
Ngược lại, hai vùng Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, là những vùng núi cao điều kiện đi lại khó khăn và là nơi các dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu, chỉ chiếm dưới một phần năm (gần 19%) dân số của cả nước. Quy mô, cơ cấu và phân bố dân số 2. Quy mô và phân bố dân số 2. Qui mô và sự biến đổi qui mô dân số Qui mô dân số là tổng số dân sinh sống (cư trú) trong những vùng lãnh thổ nhất định vào những thời điểm xác định Qui mô dân số là chỉ tiêu dân số học cơ bản.
Thông tin về qui mô dân số được dùng để tính số dân bình quân và nhiều chỉ tiêu dân số khác. Nó là đại lượng không thể thiếu được trong việc xác định các thước đo chủ yếu về mức sinh, chết, di dân. Đồng thời, nó còn 11 được sử dụng để so sánh với các chỉ tiêu kinh tế xã hội nhằm lý giải nguyên nhân của tình hình và hoạch định chiến lược phát triển. Để nghiên cứu quy mô dân số, người ta thường sử dụng các thước đo sau: Số dân thời điểm: là tổng số người sinh sống trong một vùng lãnh thổ nhất định vào những thời điểm xác định (có thể là đầu năm, cuối năm, giữa năm hoặc thời điểm t bất kỳ nào đó.
Các ký hiệu thường dùng như: + PO: số dân đầu năm (hoặc đầu kỳ); + P1: số dân cuối năm (hoặc cuối kỳ); + Pt: số dân tại thời điểm t. Thông tin về quy mô dân số thời điểm được sử dụng để tính tốc độ tăng hay giảm dân số theo thời gian. Số dân trung bình (Ký hiệu thường dùng: P ) là số trung bình cộng của các dân số thời điểm. Khi có số dân đầu năm và cuối năm, hoặc là đầu và cuối một thời kỳ ngắn, nếu số dân biến động tăng hoặc giảm tương đối đều đặn, không có những biến đổi mang tính chất đột biến ta có công thức tính số dân trung bình như sau: P0 + P1 P= 2 Trong đó: Po là số dân đầu năm (đầu kỳ) P1 là số dân cuối năm (cuối kỳ) Trong trường hợp không đủ số liệu để tính toán, người ta cũng có thể lấy số dân có vào thời điểm giữa năm (1/7 hàng năm) làm số dân trung bình của năm đó.