CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN Giới thiệu: Chương này mô tả khái quát các kiến thức cơ bản tổng quát về công tác xã hội với cá nhân như khái niệm, lịch sử hình thành, mục đích mục tiêu, vai trò của nhân viên xã hội, phân tích các nguyên tắc và thành tố công tác xã hội cá nhân. Qua đó, người học có cái nhìn tổng quát về nội dung công tác xã hội cá nhân. Mục tiêu: - Mô tả và phân tích khái niệm, mục đích, ý nghĩa, các nguyên tắc hành động của công tác xã hội cá nhân, trình bày vai trò của nhân viên xã hội và phân tích các thành tố trong CTXH cá nhân.
- Hình thành kỹ năng phân tích, đánh giá, làm việc nhóm. Thực hiện đúng các nguyên tắc hành động khi làm việc với cá nhân - Sinh viên lắng nghe và thừa nhận tính chuyên nghiệp, sẵn sàng dấn thân với nghề nghiệp sau này. KHÁI NIỆM VỀ CTXH CÁ NHÂN(1) Trong cuộc sống, con người luôn phải đối phó với những vấn đề phức tạp mà có khi họ không thể tự mình giải quyết được. Vấn đề mà con người gặp phải có thể rất đa dạng không giống nhau như nghèo đói, bệnh tật, hôn nhân, gia đình,.
điều quan trọng là khi gặp phải vấn đề rắc rối con người sẽ giải quyết như thế nào và có khả năng giải quyết nó hay không. 8 Nghề CTXH đưa ra phương pháp làm việc với cá nhân nhằm giúp cá nhân nhận diện được vấn đề gặp phải, đánh giá sức mạnh bản thân, hỗ trợ cá nhân tự giải quyết vấn đề nhằm tăng cường hoặc khôi phục việc thực hiện vai trò chức năng xã hội của cá nhân. Có rất nhiều định nghĩa liên quan đến CTXH với cá nhân. Sau đây là một số định nghĩa của một số tác giả, tổ chức tiêu biểu: Có rất nhiều định nghĩa liên quan đến công tác xã hội với cá nhân.
Sau đây là một số định nghĩa của một số tác giả, tổ chức tiêu biểu: Bà Helene Mathew cho rằng: “Công tác xã hội cá nhân là phương pháp giúp đỡ cá nhân con người thông qua mối quan hệ một – một. Phương pháp này được các nhân viên xã hội ớ các cơ sở sử dụng giúp con người có vấn đề về chức năng xã hội và việc thực hiện chức năng của họ” Bà Perlman cho rằng: “Công tác xã hội cá nhân là một tiến trình được các cơ quan lo về an sinh cho con người để giúp cá nhân đối phó hữu hiệu hơn với các vấn đề thuộc về chức năng xã hội của họ” Esther C. Viloria: “Công tác xã hội cá nhân là tiến trình giúp đỡ, bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, có thể là hỗ trợ vật chất, chuyển tiếp đến các tổ chức cộng đồng khác có đủ phương tiện, hỗ trợ về tâm lý cảm xúc qua việc lắng nghe có hiệu quả, biểu lộ sự chấp nhận và tạo sự an tâm, nêu lên đề nghị, cố vấn thích hợp và đặt ra các giới hạn, khuyến khích thân chủ biểu lộ cảm xúc, cũng như khuyến khích thân chủ tác động lên các kế hoạch cuả họ; giúp cá nhân tường thuật và xem xét hoàn cảnh của họ hay làm việc với những cân nhắc và hiểu biết kỹ lưỡng về mối quan hệ nhân quả giữa thái độ hiện thời và cách điều chỉnh những kinh nghiệm quá khứ của họ. Tất cả những điều này có thể đựơc sử dụng cùng nhau để đáp ứng cho những cá nhân đang chịu stress, giúp họ có khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu và thực hiện chức năng xã hội của họ đầy đủ hơn” 9 Mary Richmond: “Công tác xã hội cá nhân là những tiến trình phát triển nhân cách nhờ những điều chỉnh được tác động một cách có ý thức, theo từng cá nhân một, giữa con người và môi trường xã hội của họ”(2).
Có thể định nghĩa Công tác xã hội cá nhân là nghệ thuật thực hiện những việc khác nhau bằng cách hợp tác với họ để cùng đạt tới sự tốt đẹp hơn cho xã hội và cho chính bản thân họ. Kazuko Kay: “Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp công tác xã hội, can thiệp những khía cạnh tâm lý xã hội của đời sống con người nhằm khôi phục, cải thiện và phát huy việc thực hiện chức năng xã hội của cá nhân đó hay phòng ngừa sự yếu kém trong việc thực hiện chức năng xã hội bằng cách nâng cao sự thể hiện vai trò với tư cách là một cá nhân có năng suất và có tính xây dựng” Định nghĩa của hiệp hội công tác xã hội thế giới:(3) Sách giáo khoa/ bách khoa (Encyclopedia) về công tác xã hội của Philippin: “Công tác xã hội cá nhân là một hình thức cá biệt hóa việc giúp đỡ con người đối phó vói những vấn đề cá nhân thường liên quan đến sự sa sút hay gãy đổ trong việc thực hiện các chức năng xã hội một cách đầy đủ” Bà Nguyễn Thị Oanh: “Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp can thiệp (của Công tác xã hội) quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một thân chủ cảm nghiệm. Mục đích của Công tác xã hội cá nhân là phục hồi, củng cố và phát triển sự thực hành bình thường các chức năng xã hội của cá nhân và gia đình” Như vậy có thể thấy CTXH cá nhân có những đặc điểm như sau: CTXH cá nhân là một phương pháp trợ giúp trong CTXH thông qua mối quan hệ tương tác trực tiếp một – một. Mục đích của CTXH cá nhân là giúp cho cá nhân giải quyết vấn đề nảy sinh từ mối quan hệ, từ những thay đổi của môi trường xung quanh.
Ví dụ như cá nhân gặp khó khăn về tâm lý, kinh tế, việc làm… 10 Đối tượng trợ giúp là cá nhân nhưng có khi cần can thiệp với cả gia đình của họ nhằm tạo sự thay đổi của cá nhân và những người liên quan trong gia đình, là những người đang có vấn đề về tâm lý, xã hội. Người trợ giúp là NVXH, họ là nhà chuyên môn có kiến thức nền tảng như hành vi con người, xã hội và kỹ năng chuyên môn về CTXH. Nội dung hoạt động của CTXH cá nhân bao gồm: như tham vấn (cho trẻ bỏ nhà đi lang thang, cho người đang trong tình trạng hoảng loạn, trẻ bị xâm hại…), giúp người thất nghiệp tìm kiếm việc làm hay được đào tạo nghề, giúp trẻ mồ côi được chăm sóc thay thế hay vào trung tâm, cung cấp dịch vụ cho người lớn và trẻ em bị bạo lực, trợ giúp những người nghiện có kiến thức hiểu về sự nghiện hút và ý chí để cai nghiện, kết nối giúp đỡ các cá nhân tiếp cận với các dịch vụ xã hội… 2. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN CTXH cá nhân là phương pháp can thiệp đầu tiên của chuyên ngành CTXH.
Phương pháp này bắt đầu từ cuối những năm 1800 với các tổ chức Từ Thiện (Charity Organizations) Mỹ; Hoạt động: thăm viếng hữu nghị (friendly visitors) để giúp đỡ người nghèo. Họ tới thăm từng người, tìm hiểu cặn kẽ những người cần sự giúp đỡ, cho những lời khuyên và giúp đỡ tài chính. Đến đầu TK XX, thực tiễn đòi hỏi hoạt động giúp đỡ cá nhân cần có phương pháp mang tính khoa học chứ không còn là hoạt động từ thiện nữa. Đặc biệt là sự thay đổi mạnh mẽ của xã hội do hệ quả của công nghiệp hóa.
Vì thế ở giai đoạn này, phương pháp công tác xã hội cá nhân đã phát triển dựa trên những nền móng, cơ sở khoa học. Nền móng đào tạo: Các trường giúp đỡ nhiều hơn; nội dung đào tạo và chương trình đào tạo phong phú hơn, sâu hơn. Công tác xã hội cá nhân xuất hiện vào cuối những năm 1800. Trong bối cảnh công nghiệp hóa đô thị hóa ở các nước phương tây, đặc biệt ở Anh và Mỹ.
Nguồn gốc của nó có thể thấy được khởi xướng từ hoạt động giúp đỡ những người nghèo, thất nghiệp, trẻ mồ côi,. của các tổ chức từ thiện COS (Charity 11 Oganizations Society) ở Anh và ở Mỹ. Hiệp hội này đã thúc đẩy sự cá nhân hóa và công tác xã hội cá nhân. Do những nhân viên xã hội đầu tiên này giải quyết trường hợp của các gia đình có nhu cầu nên ở Mỹ họ được gọi là những nhân viên xã hội cá nhân.(4) Công tác xã hội ra đời tại Anh vào cuối thế kỷ 19, do cuộc cách mạng công nghiệp mà nước Anh phải đối mặt với nhiều vấn đề xã hội trầm trọng.
Vì vậy cần có những chính sách, hoạt động giúp đỡ của Nhà nước và những người tham gia tình nguyện đã hình thành nên nghề công tác xã hội. Nổi bật nhất là sự ra đời của Hiệp hội các tổ chức từ thiện được thành lập vào năm 1869 tại Luân Đôn nước Anh. Những đóng góp của Hiệp hội các tổ chức từ thiện này đã đặt nền tảng cho hoạt động Ngành công tác xã hội chuyên nghiệp sau này. Hoạt động của Hiệp hội các tổ chức từ thiện bắt đầu từ Luân Đôn và phát triển rộng khắp nước Anh, sau đó phát triển sang cả nước Mỹ dưới dạng Công tác xã hội sơ khai được thực hiện bở các nhà truyền giáo và tình nguyện.
Vào năm 1877, Tổ chức từ thiện xã hội được thành lập tại Mỹ và đến năm 1898 Hiệp hội tổ chức từ thiện lần đầu được tổ chức tại Mỹ. Đến năm 1901, tại New York (Mỹ) trường Công tác xã hội đầu tiên ra đời. Từ năm 1955, Hội những nhân viên Công tác xã hội quốc gia được thành lập. Đến nay đã có hơn 90 quốc gia trên thế giới khắp các châu lục đã công nhận nghề công tác xã hội là một nghề chuyên nghiệp.
Tại Việt Nam Ngành công tác xã hội được hình thành muộn hơn so với các nước phát triển trên thế giới, sự hình thành và phát triển qua các giai đoạn sau: Giai đoạn nước ta trở thành thuộc địa của nước Pháp, giai đoạn này hình thành các mô hình chăm sóc tập trung như viện mồ côi, viện dưỡng lão dành cho người già, người khuyết tật được xây dựng bởi những nhà truyền giáo đã có ảnh hưởng đến mô hình công tác xã hội. Giai đoạn 1945-1954: Sau cách mạng Tháng Tám thành công, miền Bắc thành lập chế độ xã hội chủ nghĩa, tập trung kiến thiết, xây dựng đất nước. Từ 12 đó, công tác xã hội chưa phát triển trở thành một ngành chuyên nghiệp.