— ae D2 0Ì Nr) củng GON TƯ 'ĐÌNH SÙNG. N IIIIIIIIIIIUIIHI 2 NHÀ XUẤT BẠN XÂY DỰNG a BO XUAN ĐỊNH (chủ biên) BULLE GON- PHAM DINH SUNG NHÀ XUẤT BẢN XÂY DỰNG HÀ NỘI - 2001 LOI NOI DAU Giáo trình "Cơ sở kỹ thuật cơ khí " dàng để giảng dạy và học tập cho sinh viên thuộc các chuyên ngành phi cơ khí tại trường Đại học Xây dựng. Hiện tại, đây là giáo trình chính cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về kỹ thuật cơ khí cho các sinh viên chính quy và tại chức chuyên ngành Vật liệu xây dựng, Kỹ thuật môi trường. Giáo trình có 3 phần, bao gồm 16 chương : Sâu chương đẩu cung cấp những kiến thức cơ bản về vật liệu cơ khí, những khái niệm về nhiệt luyện, các phương pháp gia công kim loại.
Năm chương tiếp theo là những khái niệm về cơ cẩu và máy, động học và động lực học của cơ cấu và máy đặc trưng. Năm chương cuối là những khái niệm cơ bản về tính toán thiết kế những chỉ tiết máy có công dụng chung. Giáo trình “Cơ sở kỹ thuật cơ khí'do nhóm cán bộ giảng dạy bộ môn Cơ sở cơ khí biên soạn với sự phan công như sau: - Ths. Phạm Đình Sùng viết các chương l, 2, 3, 4, 5,6.
Bùi Lê Gôn viết các chương 7,8,9, 10, 11. Đỗ Xuân Định chủ biên và viết các chương 12,13,14,15, l6. Với giáo trình này, những người biên soạn chúng tôi mong muốn cung cấp cho bạn đọc những khái niệm cơ bản nhất, tối thiểu nhất và dễ hiểu nhất về kỹ thuật cơ khú, tạo thuận lợi cho người đọc trong quả trình học lập, tìm hiểu và khai thác hợp lý các thiết bị và máy chuyên ngành. Trong quá trình biên soạn sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết, do vậy chúng tôi rất mong nhận được các ý kiến đóng góp bổ sung để cuốn sách được hoàn thiện hơn.
Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về: - Bộ môn Cơ sở cơ khi, khoa Cơ khí xây dựng, trường Đại học Xây dựng, số 5% đường Giải Phóng, Hà Nội. - Nhà xuất bản Xây dựng - 37 Lê Đại Hành - Hà Nội. Các tác giả PHAN I KIM LOAI HOC, NHIET LUYEN VA CONG NGHE GIA CONG KIM LOAI Chuong 1 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ KIM LOẠI VA HOP KIM 1. KIM LOẠI VA NHUNG TINH CHAT QUAN TRONG CUA NO 1.
Kim loại, Theo các nhà hoá học, kim loại được định nghĩa là những nguyên tố mà trong quá trình tham gia các phản ứng hoá học chúng có xu hướng nhường điện tử ở lớp ngoài cùng (các điện tử hoá trị). Theo các nhà kĩ thuật, kưm loại được quan niệm là các vật thể có những dấu hiệu chung đặc trưng nh: khả năng dẫn điện, dẫn nhiệt cao, có độ bên tương đối cao, có khả năng biến dạng đẻo khi bị ngoại lực tác dụng, có ánh kừn (nếu không bị che phủ bởi một lớp là sản phẩm của phần ứng hoá học, ví dụ lớp oxH). Trừ thuỷ ngân, tất cả các kim loạt Ô nhiệt độ bình thường đêu có cẩu trúc tỉnh thể. Khoảng 3/4 các nguyên tố trong bảng hệ thống tuần hoàn là kim loại, còn lại khoảng 1/4 các nguyên tố là á kim, song giữa kim loại và á kim không có ranh giới rõ rệt.
Liên kết ion là kết quả của các lực hút tĩnh ® (+) (+) (+) điện giữa các ion trai dau, vi du NaCl. Lién két đồng hoá trị được hình thành do sự góp chung C) C) (+) @ các điện tử giữa hai hay nhiều nguyên tử. Liên kết kim loại được hình thành do lực hút @ @ G) © giữa các ion đương và các điện tử không bi rang buộc vào một nguyên tử cụ thể nào. Có thể hình dung liên kết kim loại như sau (hình 1.1): các @ @ (+) © ion đương tạo thành mạng xác định, trong đó các điện tử hoá trị tự do chuyển động như chất .1: Liên kết kưm loại Năng lượng liên kết là tổng hợp lực đẩy và hút tĩnh điện giữa các ion dương và mây điện tử tự do.
Chính điều đó dẫn tới việc xuất hiện các cấu trúc hỗn hợp và tạo sự dịch chuyền các nguyên tử mà liên kết vẫn không bị phá huỹ (liên quan đến biến dạng đẻo). Trong liên kết ion và đồng hoá trị, các điện tử hoá trị bị hút chặt và không thể tham gia trong quá trình tạo ra dòng điện, trong liên kết kim loại, các điện tử hóa trị tự do là nguyên nhân gây ra độ dẫn điện của kim loại. Hợp kim Khi đem một kim loại nấu chảy với một hay nhiều nguyên tố khác ta được vật thể mới có tính chất kim loại, thì vật thể đó là hợp kim. Nguyên tố chủ yếu trong hợp kim là nguyên tố kim loại.
Thông thường hàm lượng các nguyên tố trong hợp kim được biểu thị bằng số phần trăm (%) khối lượng. Hợp kim được sử dụng rộng rãi vì các lí do sau: - Dễ chế tạo, giá thành rẻ hơn kim loại nguyên chất. - Có tính tổng hợp tốt hơn kim loại nguyên chất. - Một số hợp kim có tính chất đặc biệt mà kim loại nguyên chất không có như độ bên cao, khối lượng riêng nhỏ, không gỉ, chịu nhiệt.
-“Tính công nghệ tốt (tính đúc, tính gia công cắt got. Những tính chất quan trọng của kim loại và hợp kim a) Li tinh: Tinh dan điện, dẫn nhiệt, khối lượng riêng, từ tính, nhiệt độ nóng chảy. Các tính chất này được nghiên cứu để sử dụng kim loại và hợp kim một cách tối ưu trong khi vẫn đảm bảo các yêu cầu về kinh tế và kỹ thuật. Ví dụ: các hợp kim có khối lượng riêng nhỏ, có độ bền cao (ví dụ đuyra) được sử dụng trong lĩnh vực hàng không và vũ trụ.
Đồng và nhôm có độ dẫn điện cao được sử dụng trong lĩnh vực điện, điện tử. b) Hoá tính: Tính chống 4n mon trong các môi trường khác nhau. c) Cơ tính: Cơ tính của vật liệu được xác định bằng các phương pháp thử khác nhau tuỳ theo bản chất tải Hình 12: Đường Công (chủng loại, độ lớn, tốc độ) và môi trường tải (nhiệt ứng suất biển dụng (lực tác độ, thời gian, hoạt tính). Đơn giản và thông dụng là dung - bién dang) phương pháp thử kéo, trong đó mẫu thử kéo chịu lực kéo một chiều trùng với trực mẫu, tăng đần cho tới khi mẫu đứt.
Kết quả thử được ghi trên giản đồ kéo biểu thị quan hệ giữa lực kéo và độ giãn đài (hoặc ứng suất và biến dạng, trong đó phân biệt 3 giai đoạn) (hình Ï.2): - Biến đạng thuận nghịch, mất ngay sau khi bỏ tải hoặc DB SS sau một thời gian xác định. - Biến dạng không thuận nghịch, còn giữ lại sau khi bỏ tải. - Phá huy khi vật liệu tách đứt hoặc vỡ. ‘A Một số chỉ tiêu cơ tính quan trọng của kim loại và hợp kim được xác định như trên hình 1.
Độ cứng: Độ cứng được định nghĩa là khả năng chống lại sự xâm nhập của vật Khác 20" vào vật liệu. Độ cứng được xác định bằng cách ép một vật có hình đạng nhất định (viên bị, [im hình nón, hình tứ diện) có độ cứng đủ cao lên bể mặt vật liệu. Từ các số liệu về hình dang vat ép và kích thước vết in để lại trên bể mặt vật liệu người ta tính được độ cứng Hình 1.3 : Hinh dang céc dau do dé citng va vét in trén theo các thang khác nhau vật liệu trong các phương pháp đo độ cứng (hình 1. a- Phương pháp Brinell ; b - Phương pháp Rockwell ; Tuỳ theo phương pháp đo € Phương pháp Vicker ; dc Phương pháp Knoop ta có độ cứng theo thang Brinell(HB), Rockwell (HRC,HRB), Vicker (HV), Knoop (HK).
Phuong phap đo độ cứng Brrinell sử dụng viên bị thép tôi, mũi đo của phương pháp Rokwell thường là mũi kim cương hình nón; hai phương pháp sau là mũi kim cương hình tháp đêu và hình tháp cho vết đo hình thoi. Giữa độ cứng và giới hạn bền kéo của một số vật liệu (đặc biệt là đối với thép cacbon thấp và thép hợp kim thấp) có mối quan hệ: Ø,=(2,1+4,1)HB a) Đối với thép cacbon thấp sau thường hoá, người ta sử dụng giá trị 3,6; như vậy có thể từ việc đo đơn giản độ cứng ta có thể xác định tương đối giá trị độ bền kéo của vật liệu. a) Tinh céng nghệ Tổng hợp các tính chất cơ học và vật lí của vật liệu cho phép trong những điều kiện nhất định và với phương pháp xử lí nhất định để chế tạo ra bán thành phẩm hoặc thành phẩm được gọi là tính công nghệ của vật liệu. Những tính chất công nghệ quan trọng của vật liệu như: tính hàn, tính đúc, tính gia công bằng áp lực, tính cắt gọt.
Ví dụ: Thép có tính hàn tốt hơn gang vì trong những điều kiện như nhau, thép có thể tạo nên liên kết hàn tốt hơn và dễ dàng hơn so với liên kết hàn giữa hai chỉ tiết bằng gang; tính đúc của gang tốt hơn của thép vì nhiệt độ nóng chảy của nó thấp, độ chảy loãng cao. CẤU TẠO TINH THỂ CỦA KIM LOẠI 1. Mạng tỉnh thể Trong các chất có cấu tạo tinh thể, trong đó có kim loại, các nguyên tử. được sắp xếp trong không gian theo một trật tự hình học nhất định và tạo thành mạng tỉnh thể.
Phần không gian nhỏ nhất mang mọi quy luật đặc trưng cho I kiểu mạng gọi là ó cơ bản. Như vậy có thể coi vô số các ô cơ bản xếp liên tiếp nhau tạo thành mạng tinh thể. Kích thước của ô cơ bản gọi là thông số mạng. Các kiểu mạng tỉnh thể thường gặp : a) Mang tinh thể lập phương tâm khối (Body Centered Cubic - BCC) Ô cơ bản là một khối lập phương có cạnh là a.
Các nguyên tử nằm tại đỉnh va tam của hình lập phương (hình. Một số kim loại có kiểu mạng này như Fe- œ, Cr,W, Mo.4 : Các kiểu ô cơ bản thường b) Mạng tỉnh thể lập phương tâm gấp của kim loại mặt (Face Centered Cubic-FCC) a- Ô cơ bẩn mạng lận phương tâm mặt Ô cơ bản là một khối lập phương b- Ô cơ bản mạng lập phương tâm khối cạnh là a. Các nguyên tử nằm tại đỉnh c- Ô cơ bản mạng sâu phương xếp chặt của khối lập phương và tâm của các mặt (hình 1. Một số kim loại có kiểu mạng này nhu Fe-y, Cu, Al, Ni, Pb, Au, Ag.
c) Mang tinh thé sau phương xếp chặt (Hexagonal Close-Packed - HCP) Ô cơ sở của mạng sáu phương xếp chặt là khối lăng trụ lục giác với hằng số mạng là a và c, các nguyên tử nằm ở 12 góc, tâm của 2 mặt đáy và tâm của 3 khối lăng trụ tam giác đêu, cách nhau (hình 1.