BÀI 4 CÂY XOÀI MĐ 24 – 04 Giới thiệu: Bài bốn nói về đặc tính hình thái, nông học, và kỹ thuật trồng chăm sóc cây xoài. Giới thiệu qui trình xử lý ra hoa hiện đại đang áp dụng ngoài thực tế có hiệu quả cao, các biện pháp quản lý dịch bệnh hạn chế được thiệt hại cho cây trồng từ đó đảm bảo được phẩm chất và năng suất của trái xoài đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu. Mục tiêu: Kiến thức: Trình bày được đặc tính hình thái, nông học, và kỹ thuật trồng chăm sóc cây xoài. Kỹ năng: + Thực hiện và hướng dẫn thực hiện qui trình trồng và quản lý dịch hại trên cây xoài.
+ Nhận dạng được đặc điểm hình thái của các giống xoài Năng lực tự chủ và trách nhiệm: + Thực hiện quy trình trồng và chăm sóc xoài + Trung thực, có ý thức kỷ luật cao, sẵn sàng đảm nhiệm các công việc được giao; + Có ý thức học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn; + Làm việc độc lập hoặc làm việc theo nhóm, giải quyết công việc, vấn đề phức tạp trong điều kiện làm việc thay đổi, chịu trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm đối với nhóm; + Đánh giá chất lượng công việc sau khi hoàn thành và kết quả thực hiện của các thành viên trong nhóm. Giá trị, nguồn gốc, phân nhóm và giống trồng 1. Giá trị dinh dưỡng và sử dụng Xoài được xem như là cây ăn trái quan trọng chiếm phần lớn thị phần trái cây trong nước, được sử dụng rộng rãi từ trái còn xanh đến trái chín. Trái xoài chín bổ dưỡng hơn cả cà rốt vì ngoài carotene, tiền sinh tố C, giúp cho người ốm mới khỏi ăn mau lại sức, tăng sức đề kháng, chóng đói, thèm ăn.
50 Thành phần dinh dưỡng có trong xoài ngoài vitamin C còn có vitamin A, carbohydrate (13,2-20%), Protein (0,3-0,8%), Lipit (0,1-0.2%), chất xơ (0,6- 0,7%), và các khoáng chất như Calcium, lân,. Tỷ lệ chất khô chiếm 17,4%, đường chiếm 15,4%. Sucrose là đường chủ yếu trong trái xoài chín (Litz, 1997). Nguồn gốc và phân bố Xoài là loại cây ăn trái nhiệt đới, có nguồn gốc từ Ấn Độ chạy dài đến Miến Điện và được trồng hơn 4.000 năm nay, nên tên khoa học của nó là M.
Cây xoài được canh tác rộng rãi tại 60 nước thuộc vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới với sản lượng hàng năm 28.000 tấn (Fao, 2001), tiềm năng thương mại của xoài rất lớn, Việt Nam đã xuất khẩu sang các nước như Hồng Kông (31,43 tấn), Australia (18,04 tấn), Singapore (8,28 tấn) và mở rộng thêm thị trường EU, Nga, Trung Quốc, Campuchia với xoài Cát Bồ, Cát Chu. Những nước có diện tích trồng xoài lớn như Ấn Độ, Philippines. Ở nước ta, diện tích trồng xoài khoảng 40.700 ha, riêng diện tích trồng xoài ở ĐBSCL là 12.706 ha (Nguyễn Minh Châu,1998), dự kiến đến năm 2010, diện tích trồng xoài cả nước là 150.000 ha với tổng sản lượng 1. Phân nhóm Trên thế giới, xoài được chia là 2 nhóm: (a ) Nhóm có hột đơn phôi hay còn gọi là nhóm Ấn Độ, được trồng ở Ấn Độ và một phần của Mã Lai.
Gọi là đơn phôi vì chỉ có mang một hột hữu tính, chỉ cho ra một cây con. Khuyết điểm của nhóm nầy là cho trái cách năm và không giữ được đặc tính của cây mẹ. Ưu điểm là có phẩm chất tốt. (b) Nhóm có hột đa phôi hay còn gọi là nhóm Đông Nam Á, nhóm nầy thường gặp ở hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á, một phần Mã Lai và Nam Ấn Độ.
Hột thường mang từ 2-12 phôi vô tính (Hình 4.1b), hột đa phôi có thể có hoặc không mang phôi hữu tính. Do tính chất của hột đa phôi mà khi gieo có thể cho ra từ 2-5 cây con, thường vô tính (Hình 4.1c), có nghĩa là cây con mang đặc tính giống cây mẹ, còn cây con hữu tính nếu có thì mọc chậm, yếu ớt. Ưu điểm của nhóm nầy là cho trái thường xuyên hàng năm. (a) hột xoài đa phôi; (b) hột xoài đa phôi được tách ra từng mảnh; (c) hột xoài đa phôi mọc nhiều cây 1.
Giống trồng - Giống trồng ở ĐBSCL: Giống xoài rất phong phú và đa dạng. Kết quả điều tra được ghi nhận có 43 giống xoài được trồng ở ĐBSCL với những đặc tính nổi trội như sau: Tỷ lệ ăn được trên 80%: xoài Battambang, Cát Hòa Lộc, Cát chu,. Độ brix trên 20%: xoài Hồng Võ, Ngự, Cát Hòa Lộc - Dễ ra hoa đậu trái: xoài Thanh Ca, Cát Chu, Bưởi. Thích nghi được trên đất phèn: Bưởi, Châu Hạng Võ Tỷ lệ hột nhỏ dưới 7% trọng lượng trái: Cát Đen, Đốc Binh Kiều.
Đây là nguồn gen cần được sưu tập để bảo tồn. Kết quả điều tra đánh giá được 4 giống xoài có triển vọng phát triển ở vùng ĐBSCL: xoài Cát Hòa Lộc, xoài Cát Chu, xoài Thanh Ca, xoài Châu Hạng Võ, xoài Thơm. Sau đây là đặc tính một số giống xoài phổ biến ở miền Nam như: ♦ Xoài Cát Hòa Lộc Giống này được trồng nhiều và tập trung ở Tiền Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ. Tuy nhiên, hầu hết các tỉnh khác đều có trồng, nhất là ở các vườn mới lập trong vài năm gần đây.
Ở các vườn mới này, cây được trồng từ cây tháp nên phát triển khỏe và khá đồng nhất, và sau 3-5 năm trồng, cây ra hoa kết quả. Ở các vườn trên 5 năm tuổi, người dân bắt đầu sử dụng hóa chất để điều khiển xoài ra hoa theo ý muốn. So với những giống khác như xoài Thanh Ca, Cát Chu, Hòn 52 Trắng,. xoài Cát Hoà Lộc khó ra hoa và ra hoa không tập trung, dẫn đến số lượng trái trên cây ít và không đồng đều.
Dù vậy, diện tích trồng giống cây này vẫn tăng nhanh do phẩm chất vượt trội của nó. Xoài Cát Hoà Lộc có cỡ trái khá to (431 g), đây là đặc tính được ưa chuộng đối với thị trường nội địa, nhưng cần phải xem lại nếu có hướng xuất khẩu. Phần thịt trái rất dày (2,5 cm) và hột lại nhỏ (8,2% trọng lượng trái), nên tỷ lệ phần ăn được khá cao (80,9%). Với cấu trúc thịt trái mịn, chắc và độ brix cao (21,0%), đây là một trong những giống được đánh giá có phẩm chất ngon nhất.
Tuy nhiên, khảo sát ở Bộ môn Khoa Học Cây Trồng cho thấy xoài Cát Hoà Lộc có một số yếu điểm là khó bảo quản trái sau thu hoạch vì chỉ hai ngày sau khi thu hoạch, quá trình chín đã khởi sự. Ngoài ra, nếu thu hoạch trái quá già, khi chín phần thịt gần hột trong suốt, làm giảm phẩm chất trái đáng kể. ♦ Xoài Bưởi (xoài Ghép) Được trồng phổ biến ở Tiền Giang và Đồng Tháp, nhất là vùng tiếp giáp với Đồng Tháp Mười. Xoài Bưởi thường trồng bằng hột và cho trái sau 3 năm trồng.
Xoài Bưởi có phẩm chất không cao nhưng do đặc tính dễ ra hoa đậu trái, cũng như thích nghi được ở vùng đất phèn nên diện tích gia tăng đáng kể trong những năm gần đây. Xoài Bưởi có cở trái trung bình (247 g), hột to (16,1% trọng lượng trái) và thịt trái mỏng (1,7 cm), nên có tỉ lệ phần ăn được thấp (69,1%). Xoài không ngọt lắm (độ brix 12,5%) thịt nhão và có mùi hôi (mùi bưởi) ở phần gần vỏ, do đó nếu gọt vỏ dày thì thịt trái không còn mùi hôi. Không nên phát triển giống này nhiều để ăn tươi vì chất lượng không thể cạnh tranh được với các giống xoài khác.
Tuy nhiên, do vỏ trái dày, có thể vận chuyển xa. Xoài Bưởi sấy được người tiêu dùng ưa chuộng nhờ giữ được hương thơm của xoài. ♦ Xoài Cát Chu Trồng nhiều ở Đồng Tháp và rải rác ở một số tỉnh khác. Được phân làm hai giống xoài Cát Chu Trắng và Cát Chu Đen theo màu vỏ trái.
Xoài Cát Chu dễ ra hoa đậu trái nên có khả năng cho năng suất cao. Từ khi trổ đến khi thu hoạch khá dài, khoảng 3,5-4 tháng. Trái xoài Cát Chu lớn trung bình (329 g), thịt trái dày (2,3 cm), hột nhỏ (11,0% trọng lượng trái) nên tỷ lệ phần ăn được nhiều (76,5%). Nơi đầu trái, chỗ đính cuống, nổi nhọn lên, có lẽ vì vậy mà gọi là Cát Chu.
Ngoài những đặc tính tốt trên, xoài Cát Chu còn được ưa chuộng do có độ ngọt vừa phải (độ brix 14,4%) và thịt trái mịn dẽo. Năng suất cao và ổn định. 53 ♦ Xoài Châu Hạng Võ Xoài Châu Hạng võ còn được gọi là xoài Đốc Nghệ, xoài Châu Nghệ, xoài Châu, gồm có 2 loại là Châu Hạng Võ đen và Châu Hạng Võ trắng. Xoài Châu Hạng Võ trắng có vỏ hơi dầy, xoài Châu Hạng Võ đen trái nhỏ, nhẹ và ngọt hơn xoài Châu Hạng Võ trắng.
Xoài Châu Hạng Võ có năng suất cao, trung bình cây 10 năm tuổi cho năng suất 125 kg/cây, và năng suất gia tăng 19 kg mỗi năm (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Châu Thanh Tùng, 2003). Trái có trọng lượng trung bình khoảng 400 g, khi chín có màu vàng nghệ rất đẹp và có tỉ trọng từ 1 trở lên, chỗ đính cuống trái bằng phẳng, vai lưng trái dốc nhiều nhưng vai bụng trái uốn cong lên, đầu trái và đuôi trái đều tròn. Thịt trái có hàm lượng đường 8,73%, TSS là 14,4% và pH là 4,5 nên không ngọt gắt và hơi chua nhẹ, rất ngon, thích hợp cho xuất khẩu. Trái có trị số TSS là 14,4 % và pH là 4,5.
Tỉ lệ thịt trái chiếm 81,9%, vỏ dầy. Xoài Châu Hạng Võ dễ ra hoa, đậu trái và cho năng suất cao. Cây chịu đựng và mọc tốt ngay cả trong điều kiện đất thấp trũng, mặn và phèn. Vỏ trái và thịt trái có màu sắc đẹp, thơm ngon, thích hợp thị hiếu người tiêu dùng.
Vỏ trái dầy có khả năng chuyên chở đi xa. Nên thay đổi phương pháp nhân giống bằng cách ghép để cây mau cho trái và thuận lợi trong việc thâm canh. Có thể sử dụng giống xoài nầy làm gốc ghép để chịu đựng điều kiện khắc nghiệt của môi trường. ♦ Xoài Thanh Ca Là giống rất lâu đời, hiện diện rải rác ở hầu hết các tỉnh ĐBSCL, nhưng diện tích tập trung nhất là ở An Giang.
Xoài Thanh Ca có phẩm chất không cao nhưng nhờ đặc tính dễ ra hoa đậu trái nên năng suất cao hơn các giống khác. Điều này nói lên tính thích nghi của giống phù hợp với điều kiện thời tiết và môi trường. Xoài Thanh Ca có cở trái (280 g) và bề dày thịt trái (1,7 cm), tương đương xoài Bưởi nhưng hột nhỏ hơn (14,2% trọng lượng trái), tỷ lệ phần ăn được nhiều hơn (73,5%). Thịt trái cũng nhão như xoài Bưởi nhưng có độ ngọt hơn (độ brix 13,3%).
♦ Xoài Thơm Có nguồn gốc ở Cái Bè (Tiền Giang).