chương 1).2 : Sơ đồ nguyên lí của bảo vệ dòng cực đại 2. BẢO VỆ DÒNG CỰC ĐẠI LÀM VIỆC CÓ THỜI GIAN: 2. Dòng khởi động của BV: Theo nguyên tắc tác động, dòng khởi động IKĐ của bảo vệ phải lớn hơn dòng điện phụ tải cực đại qua chổ đặt bảo vệ, tuy nhiên trong thực tế việc chọn IKĐ còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện khác. Để xác định dòng khởi động ta xét sơ đồ mạng điện trên hình 2.1, giả sử chọn IKĐ cho bảo vệ 3’ đặt ở đầu đoạn đường dây AB, trước hết ta khảo sát trạng thái của nó khi hư hỏng ở điểm N trên đoạn BC kề phía sau nó (tính từ nguồn cung cấp).
Khi các bảo vệ làm việc đúng thì trong trường hợp này máy cắt của đoạn hư hỏng BC sẽ bị cắt ra. Bảo vệ 3’ của đoạn không hư hỏng AB có thời gian lớn hơn sẽ không kịp tác động và cần phải trở về vị trí ban đầu của mình. Nhưng điều này sẽ xảy ra nếu dòng trở về của bảo vệ Itv lớn hơn trị số tính toán của dòng mở máy Imm (hình 2.3) đi qua đoạn AB đến các hộ tiêu thụ của trạm B. Dòng Itv là dòng sơ cấp lớn nhất mà ở đó bảo vệ trở về vị trí ban đầu.
Để an toàn, lấy trị số tính toán của dòng mở máy Immtt = Immmax , như vậy điều kiện để đảm bảo chọn lọc là : Itv > Immmax. 10 Khi xác định dòng Immmax cần phải chú ý là đường dây BC đã bị cắt ra, còn các động cơ nối ở trạm B đã bị hãm lại do điện áp giảm thấp khi ngắn mạch và khi điện áp được khôi phục dòng mở máy của chúng tăng lên rất cao. Vì vậy dòng Immmax thường lớn hơn nhiều so với dòng phụ tải cực đại Ilvmax. Đưa vào hệ số mở máy kmm để tính đến dòng mở máy của các động cơ ở trạm B và việc cắt phụ tải của trạm C.
Ta có Immmax = kmm.3 : Đồ thị đặc trưng trạng thái của bảo vệ khi ngắn mạch ngoài Sai số của dòng trở về của bảo vệ và các tính toán không chính xác. được kể đến bởi hệ số an toàn kat > 1 (vào khoảng 1,1 ÷1,2). Từ điều kiện đảm bảo sự trở về của bảo vệ đoạn AB, có thể viết : Itv = kat.Ilvmax Tỉ số giữa dòng trở về của rơle (hoặc của bảo vệ) đối với dòng khởi động của rơle (hoặc của bảo vệ) gọi là hệ số trở về ktv. Các rơle lí tưởng có hệ số trở về ktv = 1; thực tế luôn luôn có ktv < 1.
Dòng khởi động IKĐR của rơle khác với dòng khởi động IKĐ của bảo vệ do hệ số biến đổi nI của BI và sơ đồ nối dây giữa các rơle dòng và BI. Trong một số sơ đồ nối rơle, dòng đi vào rơle không bằng dòng thứ cấp của các BI. Ví dụ như khi nối rơle vào hiệu dòng 2 pha, dòng vào rơle I R(3) trong tình trạng đối xứng bằng 3 lần dòng thứ cấp IT(3) của BI. Sự khác biệt của dòng trong rơle trong tình trạng đối xứng và dòng thứ cấp BI được đặc trưng bằng hệ số sơ đồ: 2.
Thời gian làm việc: 2. Bảo vệ có đặc tính thời gian độc lập: Thời gian làm việc của bảo vệ có đặc tính thời gian độc lập (hình 2.4) được 11 chọn theo nguyên tắc bậc thang (từng cấp) , làm thế nào để cho bảo vệ đoạn sau gần nguồn hơn có thời gian làm việc lớn hơn thời gian làm việc lớn nhất của các bảo vệ đoạn trước một bậc chọn lọc về thời gian ∆t. Xét sơ đồ mạng như hình 2.5, việc chọn thời gian làm việc của các bảo vệ được bắt đầu từ bảo vệ của đoạn đường dây xa nguồn cung cấp nhất, tức là từ các bảo vệ 1’ và 1” ở trạm C. Giả thiết thời gian làm việc của các bảo vệ này đã biết, tương ứng là t1’ và t1”.4 : Các dạng đặc tính thời gian của bảo vệ dòng cực đại 1- độc lập; 2- phụ thuộc Hinh 2.5 : Phối hợp đặc tính thời gian độc lập của các bảo vệ dòng cực đại Thời gian làm việc t2’ của bảo vệ 2’ tại trạm B được chọn lớn hơn thời gian làm việc lớn nhất của các bảo vệ tại trạm C một bậc ∆t.
Thời gian làm việc t3 của bảo vệ 3 ở trạm A cũng tính toán tương tự, ví dụ nếu có t2” > t2’ thì t3 = t2” + ∆t. 12 Trường hợp tổng quát, đối với bảo vệ của đoạn thứ n thì: tn = t(n-1)max + ∆t trong đó: t(n-1)max - thời gian làm việc lớn nhất của các bảo vệ ở đoạn thứ n-1 (xa nguồn hơn đoạn thứ n). Bảo vệ có đặc tính thời gian phụ thuộc có giới hạn: Khi chọn thời gian làm việc của các bảo vệ có đặc tính thời gian phụ thuộc có giới hạn (hình 2.4) có thể có 2 yêu cầu khác nhau do giá trị của bội số dòng ngắn mạch ở cuối đoạn được bảo vệ so với dòng khởi động : 1. Khi bội số dòng lớn, bảo vệ làm việc ở phần độc lập của đặc tính thời gian: lúc ấy thời gian làm việc của các bảo vệ được chọn giống như đối với bảo vệ có đặc tính thời gian độc lập.
Khi bội số dòng nhỏ, bảo vệ làm việc ở phần phụ thuộc của đặc tính thời gian: trong trường hợp này, sau khi phối hợp thời gian làm việc của các bảo vệ kề nhau có thể giảm được thời gian cắt ngắn mạch.6 : Phối hợp các đặc tính của bảo vệ dòng cực đại có đặc tính thời gian phụ thuộc giới hạn. N : Điểm ngắn mạch tính toán Xét sơ đồ mạng hình 2.6, đặc tính thời gian của bảo vệ thứ n trên đoạn AB được lựa chọn thế nào để nó có thời gian làm việc là tn lớn hơn thời gian t (n-1)max của bảo vệ thứ (n-1) trên đoạn BC một bậc ∆t khi ngắn mạch ở điểm tính toán - đầu đoạn kề BC - gây nên dòng ngắn mạch ngoài lớn nhất có thể có I’ N max. Từ thời gian làm việc tìm được khi ngắn mạch ở điểm tính toán có thể tiến hành chỉnh định bảo vệ và tính được thời gian làm việc đối với những vị trí và dòng ngắn mạch khác. 13 Ngắn mạch càng gần nguồn dòng ngắn mạch càng tăng, vì vậy khi ngắn mạch gần thanh góp trạm A thời gian làm việc của bảo vệ đường dây AB giảm xuống và trong một số trường hợp có thể nhỏ hơn so với thời gian làm việc của bảo vệ đường dây BC.
Khi lựa chọn các đặc tính thời gian phụ thuộc thường người ta tiến hành vẽ chúng trong hệ tọa độ vuông góc (hình 2.7), trục hoành biểu diễn dòng trên đường dây tính đổi về cùng một cấp điện áp của hệ thống được bảo vệ, còn trục tung là thời gian.7 : Phối hợp đặc tính thời gian làm việc phụ thuộc có giới hạn của các bảo vệ dòng cực đại trong hệ tọa độ dòng - thời gian. Dùng bảo vệ có đặc tính thời gian phụ thuộc có thể giảm thấp dòng khởi động so với bảo vệ có đặc tính thời gian độc lập vi hệ số mở máy kmm có thể giảm nhỏ hơn. Điều này giải thích như sau: sau khi cắt ngắn mạch, dòng Imm đi qua các đường dây không hư hỏng sẽ giảm xuống rất nhanh và bảo vệ sẽ không kịp tác động vì thời gian làm việc tương ứng với trị số của dòng Imm (thường gần bằng IKĐ của bảo vệ) là tương đối lớn. Nhược điểm của bảo vệ có đặc tính thời gian phụ thuộc là : * Thời gian cắt ngắn mạch tăng lên khi dòng ngắn mạch gần bằng dòng khởi động (ví dụ, khi ngắn mạch qua điện trở quá độ lớn hoặc ngắn mạch trong tình trạng làm việc cực tiểu hệ thống).
* Đôi khi sự phối hợp các đặc tính thời gian tương đối phức tạp. Bậc chọn lọc về thời gian: Bậc chọn lọc về thời gian ∆t trong biểu thức (2.7) xác định hiệu thời gian làm việc của các bảo vệ ở 2 đoạn kề nhau ∆t = t n - t(n-1)max. Khi chọn ∆t cần xét đến những yêu cầu sau : 14 - ∆t cần phải bé nhất để giảm thời gian làm việc của các bảo vệ gần nguồn. - ∆t cần phải thế nào để hư hỏng ở đoạn thứ (n-1) được cắt ra trước khi bảo vệ của đoạn thứ n (gần nguồn hơn) tác động.
∆t của bảo vệ đoạn thứ n cần phải bao gồm những thành phần sau : + Thời gian cắt tMC(n - 1) của máy cắt đoạn thứ (n-1). + Tổng giá trị tuyệt đối của sai số dương max t ss(n-1) của bảo vệ đoạn thứ n và của sai số âm max tss(n-1) của bảo vệ đọan thứ n (có thể bảo vệ thứ n tác động sớm) + Thời gian sai số do quán tính tqtn của bảo vệ đoạn thứ n. + Thời gian dự trữ tdt. Thường ∆t vào khoảng 0,25 - 0,6sec.
Độ nhạy của bảo vệ: Độ nhạy của bảo vệ dòng max đặc trưng bằng hệ số độ nhạy Kn. Trị số của nó được xác định bằng tỉ số giữa dòng qua rơle IR khi ngắn mạch trực tiếp ở cuối vùng bảo vệ và dòng khởi động rơle IKĐR. Dạng ngắn mạch tính toán là dạng ngắn mạch gây nên trị số Kn nhỏ nhất. Để đảm bảo cho bảo vệ tác động khi ngắn mạch qua điện trở quá độ, dựa vào kinh nghiệm vận hành người ta coi rằng trị số nhỏ nhất cho phép là K nmin≈1,5.
Khi Kn nhỏ hơn trị số nêu trên thì nên tìm cách dùng một sơ đồ nối rơle khác đảm bảo độ nhạy của bảo vệ lớn hơn. Nếu biện pháp này không đem lại kết quả khả quan hơn thì cần phải áp dụng các bảo vệ khác nhạy hơn. Trường hợp tổng quát, yêu cầu đối với bảo vệ đặt trong mạng là phải tác động không những khi hư hỏng trên chính đoạn được nó bảo vệ, mà còn phải tác động cả khi hư hỏng ở đoạn kề nếu bảo vệ hoặc máy cắt của đoạn kề bị hỏng hóc (yêu cầu dự trữ cho bảo vệ của đoạn kề). Trong trường hợp này khi ngắn mạch trực tiếp ở cuối đoạn kề, hệ số độ nhạy không được nhỏ hơn 1,2.
ĐÁNH GIÁ BẢO VỆ DÒNG CỰC ĐẠI LÀM VIỆC CÓ THỜI GIAN: 3. Tính chọn lọc: Bảo vệ dòng cực đại chỉ đảm bảo được tính chọn lọc trong các mạng hình tia có một nguồn cung cấp bằng cách chọn thời gian làm việc theo nguyên tắc bậc thang tăng dần theo hướng từ xa đến gần nguồn.