Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn thông tin về giáo dục đào tạo trên báo in. Chương 2: Thực trạng thông tin về giáo dục đào tạo trên báo in ở Việt Nam. Chương 3: Những vấn đề đặt ra, giải pháp và khuyến nghị thông tin về giáo dục đào tạo trên báo in ở Việt Nam hiện nay. 18 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài -Trên thế giới + Nhóm tài liệu nghiên cứu về báo chí và thông tin trên báo chí Loic Hervouet (1999) Viết cho độc giả. Tác giả nghiên cứu việc tìm hiểu người đọc báo. Khi độc giả cầm tờ báo, quá trình dẫn đến việc đọc trọn vẹn một bài báo thường diễn ra 3 giai đoạn: xem lướt, quyết định lựa chọn, chọn và ưu tiên các thông tin. Để gây sự chú ý độc giả đối với một bài báo, tác giả đã nêu ra nhiều phương pháp khác nhau như: Chọn từ thích đáng phù hợp với độc giả.
Ông tìm hiểu thói quen của người đọc báo và đã chứng minh rằng mắt người không nhìn vào thứ tự từng chữ cái trong từ để rồi tạo thành từ. Cặp mắt- bộ óc- cảm nhận một cách tổng quan khoảng 10 ký tự, sau đó chuyển sang nhóm ký tự tiếp theo. Mỗi lần cảm nhận như vậy kéo dài khoảng 1/3 đến 1/4 giây. Thời gian chuyển từ nhóm này sang nhóm khác dài 1/40 giây.
Từ năm 1673, nhà văn Pháp Bossuet đã viết: “Người ta không đọc từng chữ cái một, mà hình ảnh chung của toàn bộ từ (gồm nhiều chữ cái) đập vào được não bộ cảm nhận”. Khi một trong số các chữ cái bị thay đổi vì một lý do nào đó, hình ảnh của toàn bộ từ đột ngột thay đổi làm cho não bộ không thể cảm nhận được ngay lập tức: người đọc cảm thấy bị vấp và buộc phải suy nghĩ xem chữ cái nào bị đặt sai chỗ, và dù cho người đọc có đoán ra được ngay thì nhịp đọc cũng bị giảm đáng kể.P Prôkhôrôp (2001), tác giả người Nga trong Cơ sở lý luận báo chí, đã bao quát nhiều bình diện, phân tích khái niệm và vai trò của công chúng, hiệu quả của báo chí đối với công chúng và làm thế nào để có sự hiểu biết về công chúng. Graben chủ biên cuốn Media Power in Polictics (Sức mạnh của truyền thông trong đời sống chính trị), Nxb đại học New York năm 2003 đã nghiên cứu tác động của truyền thông trong đời sống chính trị, phân tích tác động của báo chí tới chính trị trên phương diện lý thuyết và thực tiễn với các góc độ khác nhau. Cuốn sách đã phân tích các đặc trưng và phương pháp tạo dựng tâm lý, những ảnh hưởng của chính trị bằng các PTTT.
Tác giả đã làm rõ vai trò của truyền thông với đời sống chính trị hiện đại thông qua các cuộc vận động tranh cử ở Mỹ. Tác giả đã đánh giá cao ảnh hưởng mạnh mẽ của TTĐC với quan điểm chính trị của các tầng lớp dân cư (tr 15). 19 Claudia Mast (2003) trong Truyền thông đại chúng - công tác biên tập. Đề cập đến hình thức và chức năng công tác biên tập, đưa ra một số kinh nghiệm về cách biên tập một số thể loại báo chí.
Cách quản lý công tác biên tập: như tổ chức lao động, tổ chức công tác biên tập và công tác lãnh đạo biên tập. Tài liệu khẳng định, các sản phẩm báo chí cạnh tranh để lôi kéo sự chú ý của công chúng. Những biện pháp như các hoạt động đặc biệt và chú ý thị hiếu của nhóm độc giả, khán thính giả đã trở thành một bộ phận quan trọng của kế hoạch biên tập trong cuộc cạnh tranh giành thị phần. Chẳng hạn biện pháp Tự giới thiệu và công tác công chúng: Mặc dù bản thân chất lượng của công tác báo chí đã có sức thuyết phục, một sự tiếp xúc với công chúng thực hiện có bài bản mang tính chuyên nghiệp có thể nâng cao uy tín của báo đài và hiệu quả của công tác quảng cáo.
Tự giới thiệu nên ưu tiên cung cấp thông tin về mục tiêu của hoạt động báo chí, phương thức làm việc và những khả năng, nhưng cũng cần thông tin về các số liệu sử dụng phương tiện truyền thông của bạn đọc, khán thính giả. Những thông tin về kế hoạch biên tập và các cộng tác viên của báo đài (giới thiệu các thiên phóng sự kèm theo chân dung của nhà báo), kết hợp với những yêu cầu về chất lượng báo chí, tạo điều kiện cho độc giả, khán, thính giả hằng ngày có căn cứ đánh giá báo chí và các chương trình phát thanh, truyền hình, xây dựng mối thiện cảm đối với nhà báo và với sản phẩm (phương tiện truyền thông). Cuốn sách đề cao một hoạt động đặc biệt: tổ chức các cuộc tiếp xúc với độc giả, thính giả và khán giả, đánh giá các kết quả điều tra, nâng cao thêm tình cảm của công chúng đối với các PTTT, cần có kiến thức để dành lấy công chúng, chứ không phải chỉ biên tập tốt thì có công chúng. [tr 183-190-198] Jean-Luc Martin- Lagardette (2003) Hướng dẫn cách viết báo coi trọng công chúng ở khía cạnh “người ta viết trước hết là để độc giả hiểu”.
Mỗi bài báo là một sản phẩm phải lôi cuốn được một cách khôn khéo sự chú ý vào nội dung của nó. Tuy nhiên một bài báo có nội dung tốt không thôi thì chưa đủ mà nó cần phải được người ta đọc, để lôi cuốn sự chú ý của người đọc thì phải sắp xếp bài báo theo những quy tắc của nghệ thuật và dàn cảnh bài báo theo hiệu quả tìm kiếm [tr,10]. Cuốn sách đề cập đến nhóm công chúng độc giả đã bão hoà bởi các 20 PTTTĐC và làm gì để lôi cuốn nhóm công chúng này đọc báo? Điều cần lưu ý là hãy nghĩ tới bạn đọc của mình và làm cho họ đọc và hiểu một cách dễ dàng.(2003) - Sức mạnh tin tức và truyền thông, nhà xã hội học báo chí Mỹ đã từng có một “phạm vi công chúng chính trị” gắn liền với các cuộc bầu cử và báo chí ở Mỹ đã chỉ ra tầm quan trọng của việc thăm dò ý kiến người dân đối với báo chí, thông qua điều tra dư luận. Truyền thông phải gắn kết công việc với một quan điểm chính trị nhất định và có thể thực hiện điều này bằng nhiều cách.
Chẳng hạn, hầu hết các thành viên của các nhóm áp lực quan tâm đến một vấn đề duy nhất thường có quan điểm chính trị phức tạp hơn nhiều so với quy mô của tổ chức mà họ tham gia. Theo hầu hết các bài báo viết về quan điểm của công chúng, không có cách nào để nhận biết được điều này. Tầm quan trọng của việc thăm dò ý kiến công chúng trong chính trị thường xuyên được nhắc đến và điều này dẫn đến khuynh hướng cho rằng thái độ của công chúng là không thay đổi và được hình thành từ trước.Nếu truyền thông muốn tìm kiếm và giúp độc giả/ khán giả có cái nhìn sâu sắc hơn về chính trị.mà trên thực tế là đặc trưng của đại đa số công chúng. Khi nghiên cứu vai trò chức năng của báo chí đối với giáo dục đào tạo, nghiên cứu sinh cũng đã nghiên cứu về tính kết quả của báo chí trong thực hiện nghiệp vụ báo chí.
Trong cuốn “Nghiệp vụ báo chí – Lý luận và thực tiễn” xuất bản năm 2004 của tác giả V.Vôrôssilốp [99; tr162, tr163], đã chỉ ra nhiều khía cạnh khác nhau của báo chí truyền thông như: Kỹ thuật và công nghệ; hệ thống các loại hình báo chí; tính kết quả của báo chí; Phạm vi pháp lý của báo chí; đạo đức nhà báo; quan hệ tiếp thị trong báo chí; kinh tế trong ngành báo chí và quản lý các phương tiện thông tin đại chúng. Tác giả đã phân tích về tính kết quả của báo chí trong thực hiện nghiệp vụ báo chí: Tính kết quả trong hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng như một biện pháp thể hiện ý đồ của nhà báo, mức độ đạt được các mục đích phù hợp với nhu cầu của xã hội, dược hình thành từ những hiệu lực (dưới ảnh hưởng của các phương tiện thông tin đại chúng mà các thiết chế xã hội để ra các biện pháp cụ thể), bạn đọc, bạn xem truyền hình, bạn nghe đài, ở sự hình thành nên quan niệm của họ. Tính kết quả gắn liền với một loạt các thành tố, nó phụ thuộc vào hoạt động của các chức năng của báo chí, vào việc tuân thủ chính xác các nguyên tắc, các chuẩn mực pháp lý và đạo 21 đức, cuối cùng là vào trình độ nghiệp vụ của các cán bộ của các phương tiện thông tin đại chúng. Qua nghiên cứu từ những cuốn sách mang tính chất tổng kết thực tiễn lý luận hay nghiệp vụ báo chí, có thể thấy mỗi nước, mỗi xã hội có đặc điểm văn hóa, kinh tế, chính trị, hệ thống mô hình thông tin trên báo chí khác nhau, nhưng vai trò của báo chí đối với sự phát triển của mỗi quốc gia là hết sức quan trọng mà trong đó thông tin về giáo dục đào tạo luôn được các quốc gia quan tâm.
Với Việt Nam, việc nghiên cứu về lý thuyết truyền thông, về lý luận báo chí, về chức năng, vai trò của thông tin về giáo dục và đào tạo cũng cần phải có những nghiên cứu riêng phù hợp. Những tài liệu, hướng đi của nước ngoài chỉ là những tài liệu tham khảo trong điều kiện phát triển lý thuyết và thực tiễn ở Việt Nam. + Nhóm tài liệu nghiên cứu về giáo dục và đào tạo Cuốn sách Kinh nghiệm của một số nước về phát triển giáo dục và đào tạo khoa học và công nghệ [73], các tác giả đã cho thấy: Nền giáo dục Mỹ đã góp phần đáng kể cung cấp cho xã hội Mỹ một đội ngũ đông đảo các nhà khoa học, giảng viên cũng như hàng triệu công nhân kỹ thuật lãnh nghề, góp phần quan trọng trong phát triển nền kinh tế Mỹ qua nhiều thời kỳ để trở thành cường quốc kinh tế, giáo dục, khoa học công nghệ trên thế giới. [tr 227] Nền giáo dục Mỹ là nền giáo dục không chỉ dựa vào tài năng thiên bẩm của con người mà là một nền giáo dục hướng đến tạo môi trường thuận lợi cho giáo dục đào tạo phát triển và môi trường nuôi dưỡng người giỏi, người tài.
[tr 295] Bài học thành công của Singapore của tác giả Henri Ghesquiere – Cengage learrning bàn về hội nhập và chiến lược trở thành trung tâm hội nhập, Chính phủ Singapore tiến hành một số thay đổi trong giáo dục nhằm đáp ứng trong quá trình toàn cầu hóa.