Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương, 11 tiết. 12 Luận văn thạc sĩ Báo chí học CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ TỰ CHỦ ĐẠI HỌC TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ VIỆT NAM 1. Các khái niệm cơ bản 1. Báo chí Cácnhà nghiên cứutiếp cận báo chí ởnhiều góc độ khác nhau, cho nên, khái niệm về báo chí cũng khá đa dạng: Theo tác giả Tạ Ngọc Tấn, báo chí là hiện tượng đa ngh a, gắn bó chặt chẽ với các thành tố của kiến trúc thượng tầng, báo chí là một loại hình hoạt động chính trị - xã hội, với tính chất nghề nghiệp sáng tạo.
Hoạt động báo chí bao hàm trong đó sự vận hành ph c tạp của một loại nghề nghiệp, quan hệ với nhau bằng quy luật vận động nội tại của cả hệ thống và bằng hiệu quả xã hội có tính mục đích [88, tr. Tác giả Nguyễn Văn Dững tiếp cận báo chí từ quan điểm hệ thống, đưa ra khái niệm: Báo chí là hoạt động thông tin - giao tiếp xã hội trên quy mô rộng lớn nhất, là công cụ và phương th c kết nối xã hội hữu hiệu nhất, là công cụ và phương th c can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mối quan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân và cácnhóm lợi ích, với cácnước trong khu vực và quốc tế [27, tr.61] và “Báo chí c n được hiểu là hoạt động thông tin - giao tiếp xã hội trên quy mô rộng nhất, là công cụ và phương th c kết nối xã hội hữu hiệu nhất, là công cụ và phương th c can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mối quan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân và với cácnhóm lợi ích, với cácnước trong khu vực và quốc tế…” [27, tr. Khoản Điều 3 Luật Báo chí 2016đưa ra khái niệm về báo chí: “Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử”[58]. 13 Luận văn thạc sĩ Báo chí học Từ những quan điểm nêu trên, luận văn đưa ra một khái niệm chung: Báo chí là hoạt động thông tin - giao tiếp xã hội trên quy mô rộng lớn, là phương tiện diễn đạt, chia sẻ thông tin giữa các chủ thể khác nhau trong xã hội, là một bộ phận của truyền thông đại chúng, nhưng là bộ phận chủ đạo, chiếm vị trí trung tâm, có khả năng quyết định tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng.
Do đó, trong nhiều trường hợp, khái niệm báo chí được hiểu là truyền thông đại chúng và ngược lại, nói đến truyền thông đại chúng, trước hết phải nói đến báo chí. Báo điện tử Theo Khoản 6 Điều 3, Luật báo chí 2016: “Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử”. Trong sách Cơ sở lý luận báo chí (2013) tác giả Nguyễn Văn Dững cho rằng, ở Việt Nam hiện có 4 loại hình báo chí đó là: Báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử. Trong đó báo in vẫn là trục chính của các phương tiện truyền thông đại chúng, mà quanh nó các loại hình báo khác phát triển đa dạng.
Trong phạm vi luận văn, tác giả tiếp cận báo chí ở loại hình cụ thể là báo điện tử. Trên thế giới loại hình này có nhiều tên gọi khác nhau như: online newpaper (báo chí trên mạng/trực tuyến),e-journal (Electronic journal- báo chí điện tử), e-zine (Electronic magazine- tạp chí điện tử)… Ở Việt Nam, thuật ngữ báo điện tử được sử dụng khá phổ biến, như: Báo Nhân dân điện tử, Lao động điện tử, Thanh niên điện tử… Ngoài ra, còn nhiều tên gọi khácnhư: báo mạng, báo chí internet, báo trực tuyến, báo mạng điện tử,… Theo Điều 20, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, báo điện tử là một trong 5 loại của trang tin điện tử gồm: Báo điện tử, 14 Luận văn thạc sĩ Báo chí học Trang thông tin điện tử t ng hợp, Trang thông tin điện tử nội bộ, Trang thông tin điện tử cá nhân và Trang thông tin điện tử ng dụng chuyên ngành. Thuật ngữ “online newspaper” được sử dụng rộng rãi trên trong các công trình nghiên cứu báo chí học, nhất là trong lĩnh vực truyền thông mới để chỉ các khái niệm cùng tính chấtnhư: Online publishing (xuất bản trực tuyến), online media (phuơng tiện truyền thông trực tuyến), online journalist (nhà báo trực tuyến), online radio (phát thanh trực tuyến), online television (truyền hình trực tuyến). Theo tác giả Nguyễn Thị Trường Giang (2010): “Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình th c của một trang web và phát hành trên mạng Internet”.25] Ngoài ra, cũng có quan niệm báo chí trực tuyến là loại hình báo chí phát hành trên mạng Internet, sử dụng công nghệ World Wide Web với ngôn ngữ HTML, dành cho công chúng sử dụng Internet.
Như vậy, ở Việt Nam có ít nhất bốn thuật ngữđược dùng thông dụng là: Báo điện tử, báo mạng điện tử, báo trực tuyến, báo Internet. Việc phân tích và sử dụng các thuật ngữ này gắn với nhận thức và tư duy tổ chức, tư duy tácnghiệp loại hình báo chí này. Trong luận văn này, tác giả sử dụng thuật ngữ báo điện tử và đưa rakhái niệm như sau: Báo điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình th c của mộttrang web, phát hành trên mạng Internet, có ưu thế trong chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, t c thời, đa phương tiện và tương tác cao. Truyền thông Khái niệm truyền thông được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau.
Theo tác giả Nguyễn Văn Dững “Truyền thông ở bình diện t ng quát được hiểu là quá trình liên tục trao đ i thông tin, tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặcnhiều người, nhằm góp phần nâng cao thay 15 Luận văn thạc sĩ Báo chí học đ i nhận th c, mở rộng hiểu biết, tiến tới thay đ i thái độ và hành vi của công chúng- nhóm đối tượng phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững”[27, tr14]. Theo tác giả Dương Xuân Sơn, “Truyền thông là một quá trình liên tục trao đ i hoặc chia sẻ thông tin tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đ i trong hành vi và nhận th c”[87, tr. Như vậy, truyền thông là quá trình trao đổi thông tin, tương tác thông tin với nhau giữa hai hoặcnhiều người với nhau nhằmtăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức. Truyền thông là sản phẩm của xã hội con người, là yếu tố động lực kích thích sự phát triển của xã hội.
Phương tiện truyền thông là sự vận dụng các khả năng của cơ thể, sử dụng những phương tiện có sẵn trong tự nhiên, những công cụ nhân tạo để diễn tả và truyền tải những thông tin, thông điệp từ bản thân đến người khác hay từ nơi này sang nơi khác. Truyền thông là hoạt động truyền đạt thông tin thông qua trao đổi ý tưởng, cảm xúc, ý định, thái độ, mong đợi, nhận thức hoặc các lệnh, như ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành vi và có thể bằng các phương tiện trao đổi có ý nghĩa của thông tin giữa hai hoặcnhiều thành viên(máy móc, sinh vật hoặc các bộ phận của chúng). Truyền thông đòi hỏi phải có một người gửi, một tin nhắn, một phương tiện truyền tải và người nhận, mặc dù người nhận không cần phải có mặt hoặcnhận thức về ý định của người gửi để giao tiếp tại thời điểm việc truyền thông này diễn ra; do đó thông tin liên lạc có thể xảy ra trên những khoảng cách lớn trong thời gian và không gian. Truyền thông yêu cầu các bên giao tiếp chia sẻ một khu vực dành riêng cho thông tin được truyền tải.
Quá trình giao tiếp được coi là hoàn thành tốt khi người nhận hiểu thông điệp của người gửi. Các phương thức truyền tin là những tác động lẫn nhau qua một trung gian giữa ít nhất hai tác nhân cùng chia sẻ một ký hiệu tin tức, hoặc một quy tắc mang một ý nghĩa nào đó. Truyền thông thường được định nghĩa là “sự truyền đạt suy nghĩ, ý kiến hoặc thông tin qua lời nói, chữ viết, hoặc dấu hiệu”. 16 Luận văn thạc sĩ Báo chí học Trong phạm vi luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm truyền thông theo cách hiểu: Truyền thông là quá trình trao đ i thông tin, tư tưởng, tình cảm…giữa hai hay nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, tiến tới thay đ i nhận th c dẫn đến điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với lợi ích của các bên tham gia truyền thông.Tự chủ Tự chủ được hiểu theo nghĩa đời thường là khả năng tự làm chủ bản thân của một sự vật hiện tượng trong cuộc sống.
Hay hiểu theocách khác, tự chủ là tự mình có quyền và có thể kiểm soát được những công việc của mình. Theo từ điển tiếng Việt: “Tự chủ là tự điều hành, quản lí mọi công việc của mình, không bị ai chi phối”. Như vậy, tự chủ là khả năng tự điều hành và quản lý mọi công việc của một cá nhân hay một tổ chức, nhằm thực hiện nhiệm vụ được giao đạt hiệu quả cao nhất có thể Theo báo cáo đề dẫn của Debreczeni (2002) trong Hội thảo quốc tế “Tự chủ và tự chịu trách nhiệm của t ch c”tự chủ thể chế (institutional autonomy) là điều kiện cho phép một tổ chức giáo dục đại học điều hành hoạt động của tổ chức mà không có sự can thiệp từ bên ngoài. Tự chủ của cơ sở giáo dục đại học hoàn toàn không có nghĩa là nằm ngoài sự chi phối của luật pháp, mà là tự chủ có điều kiện và các điều kiện này được xác định bởi mối quan hệ giữa Nhà nước, xã hội và cơ sở giáo dục đại học.
Tự chủ được phân loại như sau: - Tự chủ thực chất (substantive autonomy): Trường đại học có quyền xác định các chương trình học tập và mục đích của những chương trình này. - Tự chủ thủ tục (Procedural autonomy): Trường đại học có quyền xác định các phương tiện cần thiết để hoàn thành các ưu tiên đáp ng vớinhiệm vụ nằm trong chính sách quốc gia.